Số 28 - Lại bàn về Hội nhập Quốc tế

Lại bàn về Hội nhập Quốc tế

Tác giả: Phan Doãn Nam

Những khó khăn và phức tạp diễn ra ở khu vực này hoặc khu vực khác trên thế giới trong hai năm qua đã làm cho nhiều người quan tâm lo lắng. Cuộc chiến tranh do Mỹ và NATO chống Nam Tư phải chăng là sự mở đầu cho cuộc chiến tranh lạnh mới nếu không phải là cuộc đại chiến thế giới thứ 3? Cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính ở châu A' bắt đầu từ tháng 7/1997 tại Thái Lan đã trực tiếp hoặc gián tiếp gây tác hại với nhiều nước kể cả nước ta, làm một số người muốn đặt lại vấn đề phải chăng xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển chỉ là một ảo tưởng và vấn đề hội nhập quốc tế cuối cùng chỉ có lợi cho các nước lớn, các nước giàu. Đối với các nước nghèo nhỏ yếu thì thời nào cũng chịu thiệt thòi. Bài này chưa có tham vọng đề cập đến tất cả các vấn đề quốc tế lớn đang đòi hỏi những công trình nghiên cứu lớn của tập thể hoặc cá nhân mà chủ yếu chỉ đề cập đến vấn đề "hội nhập quốc tế" là vấn đề liên quan mật thiết nhất đến lợi ích dân tộc của ta trong việc làm cho dân giàu nước mạnh và xây dựng một xã hội công bằng văn minh. Tuy nhiên khi nói đến hội nhập quốc tế, chúng ta không thể nào không nói đến bối cảnh quốc tế của nó. Có như vậy chúng ta mới thấy được hội nhập quốc tế là nên hay không nên, nó có phù hợp với xu thế chung của thời đại hay không, và những thuận lợi và khó khăn trong quá trình hội nhập, nhất là đối với những nước đang phát triển như chúng ta là gì?

1. Trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng ở Ban - căng, ít ai nghi ngờ về nhận định cho rằng hoà bình, hợp tác và phát triển là xu thế nổi trội của thế giới sau chiến tranh lạnh. Những phân tích và đánh giá về cuộc khủng hoảng này đã được trình bày đâu đó trong tạp chí số này, ở đây không cần thiết phải nhắc lại. Trong bài này chỉ muốn nhấn mạnh một điểm. Đó là khi nói đến xu thế là người ta muốn nói đến những quy luật khách quan sinh ra bởi sự tương tác của các mâu thuẫn cơ bản của thế giới trong từng thời kỳ phát triển của nó. Nó không phải là sự áp đặt ý chí của một ai. Trong khi phân tích tình hình thế giới của thời kỳ sau chiến lạnh và các mâu thuẫn của thời đại hiện nay, Đại hội 8 của Đảng ta đã chỉ ra rằng "tình hình thế giới đang chuyển biến nhanh chóng, phức tạp và chứa đựng nhiều yếu tố khó lường" nhưng "trong quan hệ quốc tế đã và đang nổi lên những xu thế chủ yếu" và trong những xu thế chủ yếu đó Đại hội đã đặt vấn đề "hòa bình ổn định và hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi bức xúc của các dân tộc và quốc gia trên thế giới. Các nước dành ưu tiên cho phát triển kinh tế, coi kinh tế có nghĩa quyết định đối với việc tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia" là xu thế đầu tiên của những xu thế chủ yếu của thời đại. Phải nói rằng những thành tựu mà chúng ta đạt được về mọi mặt trong nhiều năm qua kể từ khi có chủ trương "đổi mới" chính là nhờ Đảng ta đã phân tích đúng tình hình và đã lãnh đạo nước ta đi đúng xu thế của thời đại. Tất nhiên tình hình thế giới luôn luôn biến đổi và có thể phải tiếp tục nghiên cứu, đánh giá nhưng cho đến nay chưa một ai, một nước nào có kết luận ngược lại. Do nó là kết quả của sự vận động của các mâu thuẫn cơ bản của thời đại cho nên khi nói đến xu thế, người ta nói đến một trào lưu phát triển lâu dài và trong quá trình phát triển đó, nhất là trong thời kỳ quá độ từ một giai đoạn lịch này sang một giai đoạn lịch sử khác đều không thể tránh được là "có những dòng nước ngược" chống lại xu thế chủ yếu. Cuộc chiến tranh của Mỹ và NATO chống Nam Tư hiện nay là một trong những "dòng nước ngược đó". Chỉ tính riêng trong 10 năm sau chiến tranh lạnh thì đây ít nhất là lần thứ 3 (chiến dịch Bão táp Sa mạc 1991, chiến dịch Con cáo Sa mạc 1998...) Nhưng không phải vì thế mà xu thế hoà bình hợp tác và phát triển của thế giới đương đại bị thay đổi. Lịch sử đã chứng minh "dòng nước ngược" dù có mạnh đến đâu cuối cùng cũng bị trào lưu chính cuốn phăng đi. Bài học của chiến tranh Việt Nam trong những năm 60 và 70 của thế kỷ này là một minh chứng. Cuối cùng thì xu thế hoà bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội đã toàn thắng.

Sở dĩ phải hơi dài dòng một chút về "vấn đề xu thế" là vì nó liên quan đến vấn đề hội nhập quốc tế. Hội nhập nói đơn giản là sự hợp tác ở tầm cao hơn, sâu hơn để phát triển. Do đó nếu "hoà bình hợp tác và phát triển" không còn là xu thế chủ yếu của thời đại thì làm sao nói đến việc hội nhập được?

2. Hiện nay vì vấn đề còn quá mới nên chúng ta thường lẫn lộn giữa hội nhập quốc tế và quá trình toàn cầu hoá. Trước hết cần hiểu thế nào là toàn cầu hoá? Một số người cho rằng toàn cầu hoá không có gì mới cả mà nó đã có mầm mống từ xưa như việc "mở con đường tơ lụa" trước thế kỷ 16 hoặc việc Colombo phát hiện ra châu Mỹ (1492). Theo các nhà khoa học thì quá trình toàn cầu hoá chỉ mới xuất hiện gần đây thôi. Nó là hậu quả tất nhiên của những thành tựu về cách mạng tin học đặc biệt là trong lĩnh vực viễn thông trong khoảng 20 năm trở lại đây. Nhờ những thành tựu này, đặc biệt là mạng Internet và thư điện tử, mà người ta có thể ngồi ở châu A' để mua một hàng hoá ở châu Âu và nhờ một ngân hàng nào đó ở New York trả tiền trong nháy mắt. Hoặc cùng một lúc hàng triệu người trên quả đất thông qua mạng Internet đã được cùng chứng kiến việc con tàu vũ trụ Pathfinder đổ bộ xuống bề mặt sao hỏa. Hoặc giả qua mạng Internet mà chỉ trong nháy mắt hàng ngàn tỷ đôla có thể thay tên đổi chủ ở bất cứ góc trời nào trên thế giới. Do đó người ta mới kết luận, không có tính ngoa ngôn một chút nào, là nhờ Internet và thư điện tử mà thế giới có vẻ như được thu nhỏ lại và trên một mức độ nào đó làm cho khoảng cách về địa lý và biên giới chính trị không còn có tầm quan trọng như trước. Như vậy toàn cầu hoá là một thành tựu của những năm cuối cùng của thế kỷ 20. Nó là một sự phát triển khách quan khi thế giới bước vào thời đại tin học do đó là một sự áp đặt lên xã hội loài người trong quá trình tiến hoá chứ không phải là do hành động có chủ đích của con người gây ra. Do đó muốn tiến lên thì các dân tộc không được để nhỡ con tàu lịch sử này dù nó xấu hay là tốt.

Trái lại, hội nhập khác với toàn cầu hoá vì nó là kết quả của một hoạt động chính trị có chủ đích rõ ràng của nước này hay nước nọ nhằm hình thành một tập hợp khu vực nhằm thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trường cho sản phẩm và dịch vụ của nước mình. Do đó hội nhập là hành động chủ quan của con người, ở đây là của các chính phủ, nhằm lợi dụng sức mạnh của thời đại để tăng cường sức mạnh dân tộc mình. Thật ra vấn đề hội nhập quốc tế không phải là điều gì mới mẻ. Các nước châu Âu đã bắt đầu quá trình hội nhập ngay sau khi chiến tranh thế giới thứ 2 chấm dứt với việc thành lập Hội đồng tương trợ kinh tế giữa các nước XHCN châu Âu năm 1948 và việc thành lập Thị trường chung Châu Âu (1957). Đối với nước ta hội nhập cũng không phải là điều hoàn toàn mới vì chúng ta đã tham gia Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) từ tháng 6/1978. Tất nhiên hội nhập quốc tế trước đây khác với hiện nay, nhưng nói cho cùng thì có mục đích giống nhau là lợi dụng đến mức tối đa sự hợp tác quốc tế để tăng cường sức mạnh dân tộc. Mặt khác, cần thấy rằng giữa hội nhập quốc tế ngày nay với toàn cầu hoá tuy là hai quá trình khác nhau, vì hội nhập là hành động chủ quan còn toàn cầu hoá là hiện tượng khách quan, nhưng nó có mối quan hệ thân thiết với nhau. Hội nhập quốc tế là hành động chủ quan, do đó nó có thể cho phép chúng ta đi từng bước phù hợp với khả năng và lợi ích của mình, giúp chúng ta tìm được chỗ thích hợp nhất trong con tàu toàn cầu hoá, nhưng mặt khác do toàn cầu hoá là con tàu chỉ chạy một chiều và không đậu laị bến nào cả cho nên muốn không nhỡ hoặc văng ra khỏi con tàu này, tức là tụt hậu, thì quá trình hội nhập cũng phải khẩn trương và có những quyết định mạnh dạn.

3. Có thể khẳng định rằng ngày nay trên thế giới không có một nước nào có thể phát triển nếu đi theo chủ nghĩa biệt lập, dù giàu như Mỹ hoặc đông dân như Trung Quốc. Trước đây, ta thường nói muốn tạo ra cho ta một sức mạnh tổng hợp thì phải biết kết hợp sức mạnh thời đại với sức mạnh dân tộc. Cho đến nay, đó vẫn là một bài học đúng đắn. Tuy nay ta có nhấn mạnh đến việc "phát huy nội lực" nhưng sự phát huy nội lực này sẽ không thể thực hiện được nếu tách khỏi sự hợp tác quốc tế. Do đó hội nhập quốc tế là con đường duy nhất không phải chỉ riêng cho nước ta mà còn cho tất cả các nước, nhất là các nước đang phát triển tiến lên, hoặc ít nhất là không bị tụt hậu và đây là cái lợi lớn nhất có tính chất chiến lược. Mà đã là chiến lược thì phải nhìn về lâu dài và đôi khi thậm chí phải có những nhân nhượng cục bộ. Nếu không phải vì những lợi ích lâu dài và có tính chiến lược như thế thì chắc Trung Quốc đã không kiên trì trong 13 năm nay và đi hết nhân nhượng này đến nhân nhượng khác trước những yêu sách của Mỹ để được trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Hiện nay vẫn còn khoảng 10 nước châu Âu đang kiên trì xếp hàng để được kết nạp vào Liên Hiệp châu Âu. Cũng vì lợi ích chiến lược lâu dài mà Cộng hoà Liên bang Đức đành hy sinh vai trò của đồng Mác, một đồng tiền mạnh nhất châu Âu để tham gia đồng tiền chung Euro. Tất nhiên cũng còn thấy rằng không phải hội nhập quốc tế ở đâu cũng thành công. Cho đến nay sự hợp tác giữa các nước Nam A' trong hiệp hội SAARC chưa đưa lại cho các nước thành viên lợi ích gì cụ thể nhưng không vì vậy mà có ý kiến xin ra hoặc giải tán SAARC. Cái lợi lớn thứ hai trong hội nhập quốc tế, nhất là đối với các nước kém phát triển hơn, là các nước này thường được hưởng những ưu đãi, chiếu cố về vấn đề chuyển giao công nghệ vốn và thậm chí cả quan thuế. Đây là điều không thể có khi một nước đang phát triển đi hợp tác tay đôi với một công ty đa quốc gia nào đó. Sự ưu đãi chiếu cố đến các nước kém phát triển hơn trong hội nhập khu vực không phải là sự ban ơn của các nước giàu hơn trong hiệp hội đối với các nước nghèo hơn mà xét cho cùng là vì lợi ích chiến lược lâu dài, của toàn khu vực. Ngoài việc chuyển giao công nghệ và vốn, các nước kém phát triển cũng còn thông qua hội nhập khu vực để nâng cao tay nghề cho công nhân và học tập kỹ năng quản lý ở trình độ quốc tế. Từ đấy có thể thấy rằng muốn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong thế giới ngày nay thì con đường hội nhập quốc tế là con đường nhanh nhất.

Về mặt chính trị, có một vấn đề người ta thường đặt ra là liệu hội nhập quốc tế có làm cho chủ quyền quốc gia bị xâm phạm nguy hại đến vấn đề an ninh biên giới lãnh thổ hay không? Đó là trường hợp khi hội nhập quốc tế khu vực phát triển đến một mức độ nào đó thì yêu cầu giao lưu giữa các quốc gia tham gia hội nhập tăng lên và người ta dần dần tiến đến huỷ bỏ việc cấp thị thực xuất nhập cảnh ngay cho cả thường dân. ở đây cần nhớ rằng việc miễn giảm là có đi có lại. Không những công dân các nước hội viên Liên hiệp châu Âu được tự do đi lại không cần thị thực mà ngay cả một công dân của một nước ngoài châu Âu một khi có thị thực nhập cảnh của một nước nào đó thuộc Liên hiệp châu Âu thì có quyền được nhập cảnh vào tất cả các nước thành viên khác. An ninh của các nước Liên hiệp châu Âu không vì thế mà bị đe dọa, trái lại nó đã giúp cho số lượng khách du lịch quốc tế đến châu Âu hiện nay với số lượng cao nhất thế giới. Ngay trong trường hợp có vẻ rất bất bình đẳng trong quan hệ Mỹ - Mehico (tức là công dân Mỹ vào Mehico thì không cần thị thực nhập cảnh trong khi đó hàng ngàn người Mehico hàng ngày xếp hàng rồng rắn trước cơ quan lãnh sự Mỹ để xin thị thực vào Mỹ), thì xét cho cùng Mehico vẫn có lợi vì hàng vạn người Mehico tìm được công ăn việc làm một cách hợp pháp ở Mỹ một khi họ có thị thực vào Mỹ. Trái lại chẳng có người Mỹ nào lại phải trốn khỏi nước Mỹ để vào làm việc ở Mehico cả, mặt khác càng nhiều người Mỹ vào du lịch thì càng có lợi cho nền kinh tế Mehico. Hiệp ước tự do thương mại giữa Mỹ, Canada và Mehico (NAFTA) bị nhiều người (kể cả một số học giả người Mehico) chê là bất bình đẳng nhưng chính nhờ hiệp ước đó mà khi Mehico lâm vào cuộc khủng hoảng tài chính (1995) thì Mỹ đã vội vã bỏ ra 50 tỷ đôla để cứu đồng Pêso của Mehico vì Mỹ cứu Mehico là tự cứu mình.

Tuy nhiên vấn đề gì cũng có hai mặt. Bên cạnh những cái lợi phần lớn là nhìn về lâu dài thì đối với các nước đang phát triển vấn đề hội nhập quốc tế đặt ra muôn vàn khó khăn.

Cái khó khăn lớn nhất là các lợi thế tương đối của họ như tài nguyên thiên nhiên, giá nhân công rẻ dần dần bị biến mất vì công nghiệp hiện đại không cần nhiều tài nguyên thiên nhiên và lao động thô sơ. Điều này đặc biệt khó khăn đối với sự hội nhập quốc tế giữa các nước có lợi thế so sánh giống nhau.

Nhưng mâu thuẫn gay gắt hơn cả là tính cạnh tranh luôn luôn đi đôi với quá trình hội nhập. Tính cạnh tranh đòi hỏi các bên đối tác phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ đồng thời hạ giá thành đi đôi với việc phải luôn luôn điều chỉnh luật lệ trong nước cho phù hợp với luật lệ quốc tế. Điều này đặc biệt khó khăn đối với những nước như Việt Nam nơi luật pháp chưa đồng bộ , chất lượng sản phẩm kém mà giá thành lại cao. Không nói đến các hàng chế biến và dịch vụ mà ngay gạo của ta cũng kém chất lượng hơn gạo của Thái Lan và luôn luôn phải bán với giá rẻ hơn từ 50 - 70 USD Mỹ 1 tấn. Theo quy định của AFTA thì đến năm 2006 ta phải giảm quan thuế đánh vào hàng nhập của các nước ASEAN khác xuống còn 5% hoặc thấp hơn. Trong khi đó hàng của ASEAN vào ta hiện nay phải chịu thuế từ 50% trở lên có hạng mục phải đánh thuế 150%. Tất nhiên là để bảo vệ công nghiệp nội địa thì phải đánh thuế cao các hàng nhập mà đã sản xuất được ở Việt Nam. Nhưng mặt trái của nó là khi đánh thuế hàng ngoại cao thì nó không kích thích các xí nghiệp trong nước phải nâng cao chất lượng và hạ giá thành . Nếu hàng nội địa có chất lượng cao nhưng đắt hơn hàng ngoại chút ít thì chắc chắn người tiêu dùng vẫn thích dùng hàng nội địa hơn vì tiện mọi bề từ việc mua sắm đến việc bảo hành. Nếu ta không nhanh chóng khắc phục điểm yếu kém này thì khi AFTA có hiệu lực chắc chắn ta sẽ là bên thua thiệt nhất. Các công ty kém chất lượng của ta sẽ phá sản hàng loạt.

Một vấn đề lớn khác làm day dứt mọi người là làm sao trong lúc hội nhập quốc tế nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hoá dân tộc. Đây là vấn để rất lớn, lớn đến nỗi Trung ương Đảng phải dành một Hội nghị toàn thể để bàn và ra nghị quyết về vấn đề này. Nhiều bài báo đã được viết về vấn đề này. Tuy nhiên trong lúc phải chống lại những xu hướng lai căng, sính ngoại thì chúng ta cũng cần phải thấy rằng không nên để những vấn đề này cản trở quá trình hội nhập. Lịch sử của chúng ta đã có hàng ngàn năm bị nước ngoài thống trị và âm mưu đồng hoá nhưng chúng ta vẫn là Việt Nam. Đó là điều đáng tự hào nhất của dân tộc ta. Nhìn ra ngoại quốc chúng ta thấy Liên hợp châu Âu là mô hình hội nhập cao nhất hiện nay, các dân tộc tham gia cuộc hội nhập này gần như là đồng nhất về nhiều mặt như trình độ phát triển, tôn giáo v.v... nhưng người Pháp vẫn là người Pháp và người Đức vẫn là người Đức và không có ai tự xưng mình là người "Liên hiệp Châu Âu" cả. Nói như vậy để chúng ta thấy việc giáo dục nhân dân nhất là thế hệ thanh niên trong việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc là cần thiết, nhưng mặt khác chúng ta cần phải thấy dân tộc ta rất tự hào về đất nước mình.

4. Trên đây mới chỉ nói đến vấn đề hội nhập quốc tế về mặt kinh tế - thương mại. Còn trên các lĩnh vực khác thì sao? Đứng về mặt lý luận thì một khi đã hội nhập về kinh tế tất nhiên sẽ dẫn đến hội nhập về các lĩnh vực khác. Mục tiêu của Liên hiệp châu Âu là sau khi có một đồng tiền chung EU sẽ tiến đến có một chính sách ngoại giao và an ninh chung. Tuy nhiên để có được đồng EURO hiện nay các nước châu Âu đã phải đi một quãng đường dài trên 40 năm. Và cho đến nay chỉ có 11 trong số 15 nước EU gia nhập đồng EURO hoặc vì còn muốn đợi xem sao hoặc vì chưa đáp ứng đủ điều kiện do EU đưa ra. Về mặt đối ngoại và an ninh lại càng phức tạp hơn. Trong chiến tranh lạnh các nước Tây Âu có thái độ khác nhau đối với Liên Xô và Đông Âu. Qua phản ứng của các nước EU và NATO đối với cuộc chiến tranh chống Nam Tư chúng ta càng thấy rõ hơn là còn lâu các nước này mới đi đến được một chính sách ngoại giao và an ninh chung. ở Đông Nam A' quá trình hội nhập thực tế chỉ mới bắt đầu mà cũng chỉ trên lĩnh vực thương mại và một vài lĩnh vực kinh tế. Hiện nay người ta đang nói về việc cho ra đời một đồng tiền chung nhưng ai làm và làm như thế nào chưa ai bàn tới. Do đó rõ ràng còn quá sớm để bàn đến vấn đề hội nhập về ngoại giao và an ninh hoặc các lĩnh vực khác mặc dù trong tương lai xa những vấn đề này có thể trở thành yêu cầu hiện thực.

* *

*

Tóm lại quá trình hội nhập quốc tế là một yêu cầu cần thiết cho việc thực hiện kế hoạch công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Nó là công cụ để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Không có gì đáng ngại vì do ta chủ động cân nhắc từng bước đi thích hợp với trào lưu của thế giới và tình hình cụ thể trong nước. Những lợi ích của công cuộc hội nhập quốc tế là ở tầm chiến lược vĩ mô. Những khó khăn, thách thức do nó đặt ra rất lớn nhưng nếu khắc phục được thì ta sẽ trưởng thành nhanh chóng./.

Linked websites