Số 28 - Khủng hoảng Kosovo và tác động đối với quan hệ quốc tế

Khủng hoảng Kosovo và tác động đối với quan hệ quốc tế

Tác giả: Trần Thị Hoàng Mai

Bom đạn lại một lần nữa dội xuống ngay châu Âu mà cách đây chục năm còn tràn đầy hy vọng vào một tương lai hoà giải, hoà bình. Thực tế trong 10 năm qua chưa một ngày nào trên lục địa này im tiếng súng, Nguy cơ chiến tranh toàn diện giữa hai "phe" mất đi thì lập tức xuất hiện một loạt những nguy cơ bất ổn mới : Các cuộc xung đột dân tộc, tôn giáo, lãnh thổ, nguy cơ "rò rỉ" hạt nhân, buôn lậu ma tuý quốc tế , v.v... Nhưng cuộc chiến tranh ở Nam Tư lần này vẫn là một sự kiện đặc biệt nghiêm trọng. Lần đầu tiên NATO do Mỹ cầm đầu tấn công một nước có chủ quyền và có quan hệ thân thiện với Nga ngay trong khu vực ảnh hưởng truyền thống của nước này ở châu Âu. Điều gì đã dẫn đến tình hình khủng hoảng Kosovo như ngày nay? Lý do thực sự nào thúc đẩy NATO tấn công một nước không hề đe dọa an ninh của bất cứ thành viên nào của Liên minh quân sự này? Tác động của chiến tranh này đến tình hình thế giới, tới quan hệ giữa các nước lớn ra sao? Đó là những vấn đề mà bài báo này cố tìm cách lý giải phần nào, trong điều kiện cuộc chiến còn đang tiếp diễn.

Nguyên nhân "khủng hoảng Kosovo".

Nói một khách quan thì trước khi phương Tây can thiệp vào Nam Tư, tình hình ở khu vực Balkan, đặc biệt là ở trên vùng đất Nam Tư cũ, cũng đã căng thẳng. Nguyên nhân đầu tiên của những căng thẳng này là các mâu thuẫn sắc tộc,tôn giáo vốn đã tiềm tàng từ lâu đời nay gặp cơ hội bùng nổ.

Người Nam Sla-vơ, trong đó có người Sec-bi đến bán đảo Balkan vào khoảng thế kỷ thứ bảy trước công nguyên. Trên mảnh đất mà Đế chế Bi-dăn-ti-um cấp cho, người Sec-bi dần xây dựng và mở rộng đất đai và lập nên vương quốc Serbia. Vương quốc này đã có thời cực thịnh vượng ( khoảng đầu thế kỷ XIV) và bao gồm cả Bosnia, Slovenia và Croatia. Kosovo từng là trung tâm của vương quốc này. Cũng chính tại Kosovo vào năm1389 Hoàng tử La-da, thủ lĩnh của Serbia đã ngã xuống trong trận chiến đấu chống đế quốc Ottoman để bảo vệ vương quốc Serbia. Tuy cuộc chiến thất bại, nhưng từ đó Kosovo được coi như cái nôi lịch sử, nơi hội tụ tinh thần dân tộc Serbia. Ottoman cai trị vùng đất của Serbia msng theo cả một sự xáo trộn dân số và tôn giáo. Người An-ba-ni, đạo Hồi cùng theo đó mà thâm nhập vào đây. Trong nhiều thế kỷ sau đó cả vùng đất Balkan bị chia sẻ, giành giật giữa đế quốc Ottoman và Triều Hã-bu-rơ, tiếp đó là đế quốc A'o-Hung. Sự di dân, quá trình đấu tranh đòi độc lập dân tộc xen kẽ với các cuộc chiến tranh triền miên giữa liên minh của từng dân tộc với các đế quốc cai trị chống lại liên minh của dân tộc khác và đế quốc khác là nguyên nhân tồn tại cùng một lúc hai quá trình trái ngược nhau : quá trình phân tách và quá trình đồng hoá dân tộc và tôn giáo. Điều này giải thích cho hiện tượng đa dân tộc, đa tôn giáo và sự bố trí nhiều khi xen kẽ giữa các cộng đồng dân tộc và tôn giáo khác nhau, cũng như những mối hiềm khích giữa các cộng đồng ở Balkan.

Đầu thế kỷ XIX, sau những cuộc nổi dậy của người Serbia, nhà nước Serbia ra đời và liên tục mở rộng đất đai, đặc biệt thông qua các cuộc chiến tranh Balkan. Kết thúc chiến tranh thế giới thứ nhất, với Hoà ước Versailles, Serbia đã trở thành Nam Tư và bao gồm cả Kosovo, Vovoidin, Montenegro, Bosnia, Croatia và Slovenia và như vậy đạt được hai mục tiêu: thống nhất được tất cả người Serbi trong một quốc gia và lập được một liên minh bền vững của các dân tộc Nam Sla-vơ.

Trong chiến tranh thế giới thứ hai đất nước Nam Tư bị phát xít Đức xâm chiếm và chia cắt (Kosovo lúc đầu bị đưa cho An-ba-ni sau đó bị Italia sát nhập), nhưng kết thúc chiến tranh, lãnh thổ nước này lại được thừa nhận như trong Hoà ước Versailles. Dưới chính quyền của tổng thống Tito, Nam Tư là một nhà nước liên bang gồm sáu nước cộng hoà : Serbia, Slovenia, Croatia, Bosnia, Montenegro, Makedonia và hai khu tự trị : Kosovo và Vovoidin. Với chính sách dân tộc cân bằng và trong bối cảnh chiến tranh lạnh, cộng với tình hình kinh tế Nam Tư còn khả quan, các mâu thuẫn sắc tộc lắng xuống hoặc được giải quyết tương đối êm thấm.

Bước vào những năm 80, kinh tế Nam Tư đi xuống, các căng thẳng trong xã hội tăng lên, trong đó đặc biệt có vấn đề mâu thuẫn dân tộc. Tình hình này đã dẫn đến việc xoá bỏ quyền tự trị của hai tỉnh Vovoidin và Kosovo vào năm 1989 dưới chính quyền của ông Milosevic, đồng thời cũng dẫn đến việc bốn trong số sáu nước cộng hoà của Liên bang tách ra độc lập : Slovenia, Croatia (năm 1991), Bosnia, Makedonia (năm 1992).

Tại Kosovo nơi có 90% là người Albani theo đạo Hồi, 10% người Serbi theo đạo Cơ đốc chính thống, mâu thuẫn dân tộc và tôn giáo lên cao kể từ khi một chính phủ bí mật của người Albani thành lập tồn tại song song cùng chính phủ liên bang ; và đặc biệt từ khi "ngọn cờ đòi độc lập" của người Albani rơi vào tay của phái Quân đội giải phóng Kosovo chủ trương bạo lực và chính phủ trung ương tăng cường hành động để đối phó với phong trào này.

Cho dù chính sách của ông Milôsêvíc đối với các dân tộc không phải người Serbi, theo phương Tây,có nhiều điểm không công bằng theo quan điểm phương Tây, có nhiều phân biệt đối xử không công bằng đã đẩy các mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo vốn có từ lâu đời lên cao điểm nhưng nếu như không có sự can thiệp từ bên ngoài có lẽ không có khủng hoảng bùng nổ và lan rộng như tình hình diễn ra mấy năm nay ở vùng đất Nam Tư cũ..

Sự việc bắt đầu từ việc nước Đức, trên cơ sở quan hệ văn hoá truyền thống gần gũi với miền Tây Nam Tư cũ, và các tính toán khẳng định vai trò ảnh hưởng của mình ở Châu Âu, đã mạnh mẽ ủng hộ Slovenia và Croatia tách ra độc lập - một hành động bất ngờ đối với chính các đồng minh Tây Âu của Đức. Các nước Tây Âu lúc đầu cho rằng nên ủng hộ giải quyết các vấn đề dân tộc của Nam Tư theo tinh thần bảo toàn thống nhất liên bang, tránh một phản ứng lây lan đòi li khai của các cộng đồng sắc tộc khác nhau, tránh tình trạng "Balkan hoá". Nhưng hành động đơn phương của Đức đặt họ vào tình thế "việc đã rồi"; hơn nữa các nước này cũng không muốn để Đức hoàn toàn chi phối chiều hướng phát triển ở khu vực, Tây Âu đã quyết định ủng hộ lập trường của Đức và đứng ra làm người bảo trợ cho các tiến trình tách khỏi liên bang của Slovenia, Croatia, Bosnia. Tuy nhiên ,do thực lực và tiếng nói còn hạn chế nên Tây Âu đã để tuột dần sang cho Mỹ vai trò chi phối các tiến trình này. Sự can thiệp bên ngoài để thúc ép tiến trình phân tách của một dân tộc là chất xúc tác mạnh mẽ cho các cuộc bạo động và khuyến khích các dân tộc khác cũng đòi hỏi được tách ra độc lập tương tự. Sự bùng nổ dây chuyền những đòi hỏi độc lập này đã gây ra một tình trạng căng thẳng leo thang khó kiểm soát nổi bên trong Nam tư, tạo thêm cớ để bên ngoài lợi dụng can thiệp sâu hơn nữa.

Tình hình bùng nổ ở Kosovo chính là diễn biến logic sau khi Slovenia, Croatia, rồi Bosnia giành được độc lập nhờ sự hỗ trợ can thiệp trực tiếp của nước ngoài. Ngươì Albani ở Kosovo rõ ràng cũng muốn theo gương các nước Cộng hoà cũ này của Nam Tư. Cứ theo logic đó thì Kosovo chưa chắc là điểm dừng cuối cùng của cuộc khủng hoảng Nam Tư, bởi vì tại Montenegro (một nước cộng hoà hiện còn nằm trong Liên bang Nam Tư ngày nay), hay ở Makedonia cũng có những cơ cấu và mâu thuẫn sắc tộc phức tạp tương tự như ở Kosovo và Nam Tư.

Động cơ tấn công Nam Tư của các nước NATO

Mỹ và các nước Tây Âu đều nhất loạt tuyên bố tấn công Nam Tư để bảo vệ nhân quyền, chống thanh trừng sắc tộc. Tuy nhiên, nếu nhìn vào thái độ và hành động không nhất quán của họ trong cùng một loại vấn đề "nhân quyền" đối với các đối tượng khác nhau (thí dụ họ không hề phản ứng trong vấn đề người Kurd ở Thổ Nhĩ Kỳ), có thể nói : nếu đây không chỉ là cái cớ thì cũng không hẳn là lý do chính.

Đối với Mỹ, khủng hoảng Kosovo xảy ra đúng vào thời điểm Mỹ cho rằng thế và lực của mình đang rất mạnh và Mỹ đang muốn khẳng định vai trò siêu cường duy nhất, nắm quyền bá chủ thế giới. Muốn vậy, nhất thiết và trước hết Mỹ phải nắm được vai trò chủ đạo ở Châu Âu, khu vực "có lợi ích sống còn" đối với Mỹ, nơi vừa tập trung những đồng minh chiến lược đồng thời là các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng lâu dài, vừa có những đối tượng vốn là kẻ thù trong quá khứ và nay cần chinh phục hoặc kìm chế như các nước Đông Âu và Liên Xô cũ. Con đường để Mỹ thực hiện nắm quyền chủ đạo ở châu Âu không còn gì khác hơn là củng cố và mở rộng vai trò của NATO vốn do Mỹ chi phối ; và lý do đưa ra cũng không có gì thuyết phục hơn là để "bảo vệ an ninh châu Âu" và bảo vệ, phổ biến các "giá trị phương Tây".

Củng cố NATO với Mỹ có nghĩa là tăng cường vai trò chi phối của Mỹ đối với các đồng minh Tây Âu, một đồng minh ngày càng ý thức xây dựng sức mạnh toàn diện để cạnh tranh với chính Mỹ - sự ra đời của đồng tiền chung Châu Âu mới đây chính là một biểu hiện điển hình của ý thức này. Để đạt được mục tiêu này thông qua NATO, Mỹ nhất thiết phải chứng minh được sự cần thiết và sức sống của NATO thời hậu chiến tranh lạnh. Vài tháng gần đây Mỹ ra sức thuyết phục các đồng minh NATO tán thành "Khái niệm chiến lược mới" của liên minh này và sẽ đưa khái niệm này ra thông qua vào kỳ họp cấp cao NATO vào ngày 24 và 25/4/1999, nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày ra đời của tổ chức. "Khái niệm chiến lược mới" của Mỹ nhằm biến NATO từ một tổ chức quân sự chính trị khu vực trở thành một tổ chức chính trị quốc tế, bao gồm hai nét chính : thứ nhất, chủ trương mở rộng phạm vi hoạt động của NATO ra ngoài khu vực các nước thành viên, trên toàn châu Âu, thậm chí toàn cầu "toàn cầu hoá NATO", hay biến NATO thành "sen đầm quốc tế"; thứ hai, thay đổi nguyên tắc hoạt động từ phòng thủ đổi sang tiến công và trao cho tổ chức này một khả năng hoạt động hoàn toàn chủ động, độc lập, không phụ thuộc vào bất cứ tổ chức hay thiết chế quốc tế nào khác kể cả Liên Hiệp Quốc.

Cuộc tấn công của NATO vào Nam Tư lần này chính là cơ hội để thử nghiệm toàn diện "Khái niệm chiến lược mới". Tình hình căng thẳng ở Kosovo và Nam Tư hội tụ đủ các yếu tố giúp Mỹ thuyết phục đồng minh : ở đây có thể nêu vấn đề "bảo vệ các giá trị của phương Tây", vấn đề xử lý điểm yếu trong hệ thống an ninh châu Âu là Balkan và Nam Âu.

Củng cố NATO đồng thời cũng có nghĩa là mở rộng khu vực ảnh hưởng của NATO, cũng tức là mở rộng ảnh hưởng của Mỹ, sang phía Đông. Các hành động trực tiếp can thiệp của tổ chức này vào tiến trình phân tách Nam Tư trước đây cũng như hôm nay đều nhằm bành trướng ảnh hưởng sang khu vực Balkan. Sự kiện tấn công Nam Tư tiếp liền ngay sau việc Hungari, Ba Lan, Séc gia nhập NATO cũng là một cách biểu dương sức mạnh Đông tiến của NATO.

Để nắm vai trò chủ đạo ở châu Âu cũng như trên thế giới, Mỹ không thể không tính đến nhân tố Nga. Mặc dù giờ đây Nga không còn là kẻ thù của Mỹ như trước đây nữa, nhưng tình hình khủng hoảng toàn diện hiện giờ ở đất nước này, cũng như một viễn cảnh về một đối thủ cạnh tranh tiềm tàng trong tương lai đã khiến Mỹ thi hành chính sách hai mặt với Nga : vừa lôi kéo Nga thông qua giúp đỡ, viện trợ và cho Nga tham gia hay có vai trò trong một số cơ cấu hợp tác châu Âu ; vừa kiềm chế bằng cách tước bỏ dần các ảnh hưởng của Nga ở lục địa này. Mỹ dùng NATO đánh Nam Tư lần này chính là nhằm kiềm chế Nga. Mỹ và Tây Âu đã chọn thời điểm Nga đang khó khăn nhất để đánh đồng minh Serbia của Nga, gạt ảnh hưởng của Nga khỏi khu vực Balkan. Trên thực tế, Mỹ đã phủ nhận quyền vê-tô của Nga ở Hội Đồng Bảo an Liên hợp quốc bằng việc phớt lờ tổ chức này khi quyết định đánh Nam Tư. Cuộc tấn công của NATO vào Nam Tư bất chấp sự phản đối của Nga cũng thực tế làm cho Hiệp định đôí tác chiến lược giữa Nga và NATO ký tháng 5 năm 1997 trở nên vô nghĩa.

Cuộc tiến công Nam Tư cũng là cơ hội Mỹ thử nghiệm một số loại vũ khí mới, phương thức quân sự mới của "thời đại thông tin", và kiểm chứng chiến lược quân sự mới đối phó cùng một lúc với hai cuộc chiến tranh cấp vùng (Nam Tư và Irắc).

Đối với các nước Tây Âu trong NATO, rất hiếm khi họ tỏ ra sốt sắng đồng lòng theo Mỹ trong việc tấn công quân sự một nước, đặc biệt lại là một nước nằm ngoài khu vực của Hiệp ước như lần này. Điều này có thể lý giải như sau :

Trước hết cũng như Mỹ, các nước này muốn hạn chế ảnh hưởng của Nga ở Châu Âu, muốn áp đặt các giá trị chung phương Tây.

Tiếp nữa, Tây Âu cũng thấy cần có vai trò, ảnh hưởng trong khu vực liên quan sát sườn đến lợi ích an ninh của chính mình và phải tiếp tục theo đuổi việc tìm giải pháp cho vấn đề Nam Tư mà chính họ là người khai mào. Điều này lại càng có ý nghĩa trong thời điểm mà ở Liên minh Châu Âu đang nổi lên vấn đề xây dựng một chính sách đối ngoại và an ninh chung cho các nước thành viên.

Hơn nữa, thời gian vừa qua nảy ra khá nhiều vấn đề chia rẽ Liên minh Châu Âu như vụ khủng hoảng ở Uỷ ban Châu Âu, vụ tranh cãi về đóng góp ngân sách, chính sách nông nghiệp chung... Cho nên, trong sự kiện Kosovo lần này, các nước Tây Âu đều có thái độ kiềm chế bảo vệ sự thống nhất cộng đồng hơn.

Tìm hiểu lý do Tây Âu tích cực tham gia cùng Mỹ trong NATO đánh Nam Tư không thể không phân tích động cơ của Đức và Pháp. Với Đức, nhận thức chỉ thông qua NATO Đức mới khôi phục được sức mạnh toàn diện của mình. Mối quan hệ chặt chẽ giữa Đức với cả Mỹ và Tây Âu sẽ làm giảm bớt sự ngờ vực đối với một nước Đức hùng mạnh về kinh tế và muốn có một vai trò chính trị tương xứng. Nhân cuộc khủng hoảng Nam Tư, trong cái vỏ của NATO, Đức đã lần đầu tiên đem quân đội ra nước ngoài mà hầu như không gặp một sự phản ứng nào đáng kể từ bên trong cũng như bên ngoài nước. Đức đóng vai trò tích cực trong vụ "trừng phạt" Nam Tư cũng do Đức chính là nước khơi mào cho sự dính líu của Tây Âu và Mỹ vào cuộc khủng hoảng ở Balkan từ khi đơn phương thúc đẩy sự phân tách độc lập của Slovenia và Croatia. Thêm nữa, lần này Đức lại đang nắm chức chủ tịch Liên minh Châu Âu nên càng muốn tỏ rõ sự chủ động trong lĩnh vực an ninh đối ngoại hiện đang chiếm nhiều chú ý của cộng đồng.

Đối với Pháp, qua vụ Nam Tư, Pháp muốn hai điều. Thứ nhất, khẳng định lại chính sách quay trở lại NATO thực hiện từ 1995 . Với chính sách này Pháp từ bỏ việc đứng tách riêng một mình, đối lại với Mỹ, để cổ vũ xây dựng một bản sắc châu Âu riêng, nhất là trong vấn đề phòng thủ, an ninh. Từ giờ Pháp sẽ vẫn cổ vũ cho điều này nhưng ở ngay trong lòng NATO. Nhận thức này của Pháp càng được tăng cường sau bản tuyên bố chung Anh - Pháp ở Saint - Male (tháng 12 năm ngoái), bản tuyên bố đánh dấu lần đầu tiên Anh chấp nhận việc xây dựng một cộng đồng phòng thủ mang bảm sác Châu Âu trong lòng NATO. Pháp tham gia tích cực hơn vào các hoạt động của NATO cũng là vì không muốn để mất đi vai trò giải quyết các công việc châu Âu vào tay Anh và Đức, và cũng để lấy thế mặc cả với Mỹ ngay trong các công việc của liên minh. Hiện nay, Pháp đang đấu tranh rất mạnh để Mỹ trao việc chỉ huy bộ tham mưu miền Nam của NATO cho các nước Nam Âu trong Liên minh, do vậy một sự kiện quân sự của Liên minh ở Nam Âu là cơ hội để Pháp chứng tỏ vai trò tích cực chủ động của mình trong khu vực này.

Một số suy nghĩ về tác động của cuộc khủng hoảng Nam tư đối với tình hình thế giới và quan hệ quốc tế:

Cuộc tấn công của Mỹ và NATO vào Nam Tư còn đang tiếp diễn. Khi một cuộc chiến tranh bùng nổ, leo thang, có rất nhiều yếu tố bất ngờ, thậm chí ngoài logic thông thường có thể nảy sinh, do vậy ở thời điểm hiện nay, khó có thể đưa ra nhận xét toàn diện về tác động của cuộc chiến tranh đối với tình hình thế giới và quan hệ quốc tế. Với bài báo này, chúng tôi chỉ xin đưa ra một số suy nghĩ ban đầu về ảnh hưởng của cuộc chiến tranh đối với hai vấn đề : xu thế phát triển chung của thế giới; cục diện thế giới nhìn từ góc độ đánh giá thế và lực của Mỹ trong quan hệ với một số nước lớn khác.

Cuộc chiến tranh ở Nam Tư đi ngược lại và làm phương hại nghiêm trọng đến xu thế phát triển hoà bình trên thế giới.

Thứ nhất, với cuộc chiến tranh này, Mỹ và NATO đã thách thức các nước lớn khác bằng việc vượt qua những thoả thuận về cân bằng lực lượng đã hình thành từ chiến tranh thế giới thứ hai (quyền vê tô ở Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc và vai trò của tổ chức này đối với việc giải quyết các cuộc xung đột trên thế giới), vượt qua thoả thuận về vai trò và phạm vi hoạt động của NATO ở châu Âu hình thành khi nước Đức tái thống nhất. Một khi các phương thức ổn định cân bằng lực lượng giữa các nước lớn không còn tác dụng nữa thì thế giới không thể không lo ngại về khả năng xuất hiện những đe doạ hành động quyết liệt hơn của nưóc lớn này hay nước lớn khác.

Thứ hai, Mỹ và NATO đã tạo ra một tiền lệ nguy hiểm là dùng tổ chức quân sự này tuỳ ý can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của một quốc gia có chủ quyền. Thực ra trước đây Mỹ cũng đã nhiều lần vi phạm nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia, xâm lược các nước khác. Song can thiệp như trong trường hợp Nam Tư lần này là một điển hình của chính sách dùng vũ lực và "cá lớn nuốt cá bé". Chính sách này khiến cho các nước trên thế giới mà nhất là các nước nhỏ lo ngại và có thể đẩy tới hai chiều hướng : các nước nhỏ tìm đến liên minh với các nước lớn và tạo ra các khối, các khu vực ảnh hưởng khác nhau (vừa qua Nam Tư cũng đã chính thức đề nghị gia nhập liên minh với Nga và Belorusia); và xu hướng "bài phương Tây" chủ yếu là bài Mỹ, thậm chí thông qua các tổ chức và bằng các hình thức cực đoan như khủng bố, có thể tăng lên.

Thứ ba, cuộc chiến tranh ở Nam Tư và việc thử nghiệm vũ khí và các phương tiện, phương thức chiến tranh hiện đại, cùng với các kế hoạch quân sự mới của Mỹ (như kế hoạch nghiên cứu triển khai một hệ thống phòng thủ tên lửa chiến thuật mới -TMD )có khả năng khiến nhiều nước khác nghĩ đến việc tăng cường sức mạnh quân sự của mình. Từ đây có thể thấy chưa thể loại trừ hoàn toàn việc chạy đua vũ trang, mặc dầu phát triển kinh tế là ưu tiên hàng đầu của mọi dân tộc. Thực tế trên thế giới dường như phương châm vừa phát triển kinh tế mạnh vừa mua sắm vũ khí hiện đại vẫn còn chi phối chính sách của một số nước, và nhìn chung việc cân đối giữa mục tiêu phát triển kinh tế và các mục tiêu bảo vệ quốc phòng vẫn là xu hướng theo đuổi của hầu hết các nước.

Cuộc chiến tranh ở Nam Tư hiện nay đang làm tổn hại đến xu hướng phát triển hoà bình trên thế giới, tuy nhiên cũng chưa thể nói được rằng xu thế này giờ đây đã bị đảo ngược. Có nhiều lý do để phản bác điều đó, ví dụ như mức độ phụ thuộc lẫn nhau rất lớn của nền kinh tế thế giới, như mức độ huỷ diệt của vũ khí hạt nhân...đặc biệt là sự tồn tại của nhiều nhân tố, lực lượng cản trở sự bá quyền của Mỹ mà chúng ta sẽ xem xét thêm trong phần phân tích tác động của cuộc chiến tranh tới cục diện thế giới sau đây.

Cuộc chiến tranh Nam tư làm cho xu hướng đa cực hoá lại tăng lên để đối phó với vai trò siêu cường duy nhất của Mỹ. Thực tế sức mạnh của Mỹ đúng là hiện đang vượt trội lên so với các nước lớn khác về kinh tế cũng như về quân sự. Mỹ có khả năng thao túng trên khá nhiều vấn đề quốc tế, nhất là ở các khu vực chiến lược trọng yếu của Mỹ như châu Âu và Trung Cận Đông. Nam tư là một bằng chứng cho thấy, nếu nơi nào hội tụ những điều kiện tương tự, Mỹ cũng không ngại ngần can thiệp bằng quân sự. Việc NATO vừa mới chính thức thông qua chiến lược mới chuyển tính chất từ phòng thủ sang tấn công, mở rộng khu vực hoạt động ra ngoài phạm vi các nước thành viên và khẳng định tiếp tục mở rộng sang phía Đông càng củng cố thêm ưu thế của Mỹ trong việc nắm vai trò chủ đạo trong khu vực châu Âu. Tuy nhiên, cũng chính những điều kiện hội tụ khiến Mỹ và NATO đánh Nam Tư, diễn biến của cuộc chiến tranh cũng như các mối quan hệ xung quanh nó (giữa Mỹ và đồng minh của mình, giữa Mỹ và các nước lớn khác như Nga) lại làm bộc lộ những giới hạn về thế và lực của Mỹ, cho thấy không phải Mỹ muốn làm bất cứ điều gì cũng được và thế giới cũng không phải đơn cực như Mỹ muốn.

Trước hết, về khả năng làm "sen đầm" thao túng tình hình thế giới ở mọi nơi của Mỹ, cái cớ để Mỹ can thiệp không thiếu gì : có thể là để "bảo vệ nhân quyền", chống thanh trừng sắc tộc như ở Nam Tư, Kosovo; có thể nhằm chống ma tuý như ở Pa-na-ma; là để bảo vệ Mỹ kiều như ở Hai-i-ti; hay chống xâm lược, độc tài như ở Irắc...Tuy nhiên dù có mạnh về kinh tế đến đâu Mỹ cũng không thể rải quân ra toàn cầu được, và sự hỗ trợ, chia sẻ trách nhiệm với đồng minh vẫn là điều Mỹ cần. Thực tế cho đến nay, những địa điểm Mỹ đơn độc can thiệp quân sự đều thuộc khu vực trọng yếu nhất trong chiến lược toàn cầu của Mỹ. ở các nơi khác, Mỹ đều cần có sự ủng hộ của đồng minh hoặc cùng các nước khác hành động với sự uỷ quyền của Liên Hợp Quốc. ở Nam Tư đồng minh Tây Au dễ dàng đồng ý can thiệp cùng Mỹ vì đây là vùng sườn phía Nam của họ, thậm chí nằm lọt trong khu vực giữa bốn nước thành viên của NATO : Italia, Hy lạp, Thổ Nhĩ kỳ, Hung-ga-ri. Nhưng ngay trong khi can thiệp như vậy các nước Tây Âu đã lo xa mà tuyên bố với Mỹ rằng Nam Tư không phải là tiền lệ để NATO áp dụng trong mọi trường hợp, trên phạm vi toàn thế giới. Dưới sức ép của các nước Tây Âu, trong cuộc họp cấp cao NATO mới đây Mỹ đã phải nhượng bộ rằng mặc dù phạm vi hoạt động của tổ chức này được mở rộng, song không có nghĩa là bao phủ toàn thế giới mà chỉ giới hạn trong khu vực Châu Âu-Đại Tây Dương. Hơn thế nữa, các nước Tây Âu mà đứng đầu là Pháp cũng đã buộc được Mỹ thông qua tuyên bố coi trọng quyền lực và vai trò hàng đầu của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến hoà bình thế giới. Cam kết trên tuy không có sức mạnh thực tế buộc Mỹ từ bỏ được các ý đồ can thiệp của mình, nhưng cũng là một lời cảnh báo rộng, nếu lặp lại những gì đã làm như ở Nam Tư Mỹ sẽ có thể vấp phải thái độ cứng rắn hơn của dư luận cộng đồng quốc tế, thậm chí của cả đồng minh. Và từ nay, việc can thiệp quân sự của NATO ở khu vực châu Âu cũng sẽ được xem xét trong từng trường hợp cụ thể, chứ không phải cứ tự động theo tiền lệ Nam Tư như Mỹ muốn. Cuộc chiến tranh ở Nam Tư cũng chỉ ra một điều rằng ngay ở châu Âu, với NATO hùng mạnh mà Mỹ và phương Tây cũng không dễ gì khuất phục được đối phương, thì ở các nơi khác trên thế giới, với những liên minh quân sự yếu hơn, can thiệp sẽ còn mạo hiểm hơn.

Cuộc chiến tranh Nam Tư một mặt cho thấy vai trò bảo trợ của Mỹ còn hết sức quan trọng đối với các đồng minh Tây Âu trong các vấn đề an ninh ở lục địa này, và liên minh giữa hai bên về lâu dài sẽ còn là một nhân tố chính trong bàn cờ chính trị ở châu Âu và trên thế giới. Nhưng mặt khác, cuộc chiến tranh này cũng làm bộc lộ rõ những mâu thuẫn giữa hai bên và thúc đẩy thêm ý thức độc lập hơn của Tây Âu.

Cuộc chiến tranh lúc ban đầu diễn ra có vẻ như trong sự nhất trí cao độ giữa Mỹ và Tây Âu, song càng vể sau càng có nhiều bất đồng nảy sinh. Ngoài Hy Lạp là nước thành viên NATO ngay từ đầu đã phản đối cuộc tấn công của tổ chức này vào Nam Tư, hiện nay Italia, đất nước trong cuộc chiến này đang là căn cứ chủ yếu xuất phát của lực lượng NATO cũng đã bày tỏ mong muốn các hành động quân sự nhanh chóng chấm dứt để đi vào giải quyết bằng đàm phán. Các nước Tây Âu, Mỹ cũng có những lập trường khác nhau trong nhiều vấn đề liên quan đến chiến tranh, như vấn đề tính chất đội quân sẽ vào Kosovo, người tị nạn, vấn đề vai trò Liên Hiệp Quốc và Nga....Dường như cuộc chiến càng kéo dài, lòng tin vào sức mạnh quân sự của Mỹ ở các nước đồng minh càng suy giảm, và việc coi giải pháp quân sự do một mình NATO tiến hành là giải pháp duy nhất đúng ngày càng bị xem xét lại.Đề nghị mà Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, mà đứng đằng sau là các nước Liên minh châu Âu, mới đây đưa ra để chấm dứt cuộc không kích ở Nam Tư đã coi trọng hơn vai trò của Nga và Liên Hiệp Quốc trong một giải pháp cho vấn đề Kosovo và đã thay điều kiện sự có mặt của quân đội NATO ở nơi này bằng sự có mặt của một "đội quân quốc tế". Những ý kiến này cũng được Tây Âu khẳng định lại ngay trong hội nghị cấp cao của NATO vừa qua và Mỹ cũng đã phải nhượng bộ. Cũng chính trong hội nghị này, Tây Âu cũng lợi dụng triệt để việc Mỹ cần sự ủng hộ của đồng minh trong cuộc chiến tranh Nam Tư và các vấn đề an ninh nói chung để đòi lại Mỹ phải công nhận vai trò của một tổ chức quân sự chỉ mang tính chất châu Âu, nằm trong NATO, nhưng có những quyền hạn hoạt động độc lập nhất định với NATO - một cố gắng của Tây Âu nhằm thoát dần ảnh hưởng của Mỹ về lâu dài.

Đối với quan hệ Mỹ-Nga, cuộc chiến tranh Nam Tư là một cái mốc quan trọng đánh dấu một giai doạn phát triển mới, không còn thuận buồm xuôi gió giữa hai bên.

Quyết định dùng NATO tấn công Nam Tư, Mỹ và đồng minh đã lợi dụng thời điểm Nga đang khó khăn về mọi mặt để "qua mặt Nga". Hành động bỏ qua Liên Hiệp Quốc vào lúc ban đầu cuộc chiến là sự thách thức trực tiếp đối với Nga. Tuy nhiên, nếu so sánh sự kiện này với việc Mỹ đã từng trung lập được thái độ của các nước lớn khác trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc trong cuộc chiến tranh vùng vịnh, thì đây lại là một bước thụt lùi về thế của Mỹ : Mỹ "phớt lờ" được Liên Hiệp Quốc chứ không thao túng được tổ chức này. Giai đoạn mà Mỹ ở một chừng mực nào đó khống chế được nước Nga phải chăng đã qua rồi. Trên thực tế ngay trong khi quyết định đánh Nam Tư, Mỹ đã lo phản ứng của Nga. Sự mềm dẻo của Mỹ với Nga trong vấn đề các khoản vay IMF của nước này cũng là nhằm xoa dịu phần nào thái độ của Nga. Hơn thế nữa, hiện nay khi mà cuộc không kích của NATO chưa thấy mang lại một kết quả nhanh chóng rõ rệt như Mỹ và đồng minh mong muốn, Mỹ và Tây Âu đang có xu hướng chấp nhận một vai trò nhất định của Nga trong giải pháp cho Nam Tư và Kosovo. Dù sao đi chăng nữa cuộc khủng hoảng Kosovo lần này cũng cho thấy rõ một điều rằng quan hệ Mỹ-Nga đã qua thời kỳ êm ả . Mặc dù cho đến giờ trên lời nói Nga phản đối rất mạnh mẽ cuộc tấn công của NATO, nhưng trong hành động vẫn rất kìm chế. Điều này cũng là hợp lý trong tình hình kinh tế xã hội Nga còn rât khó khăn, và cũng là một sự kìm chế có lợi cho hoà bình quốc tế. Tuy vậy, những phản ứng của Nga như việc đưa tàu quân sự vào quan sát ở vùng biển Adriatic, những tuyên bố mạnh mẽ của các nguyên thủ và chính khách nước này, sự xiết lại mối quan hệ giữa Nga và Belorusia, việc chú ý tăng cường quan hệ với Trung Quốc, Â'n độ cũng thể hiện rõ ràng quyết tâm củng cố lại vai trò và vị thế của Nga ở châu Âu và trên thế giới, không để Mỹ tha hồ chi phối tình hình quốc tế. Những phản ứng vừa qua của Nga tuy chưa đến mức gây đối đầu trực tiếp với Mỹ và Tây Âu, chưa thể gây ra chiến tranh lạnh mới, nhưng là một lời cảnh cáo mạnh mẽ đối với các ý đồ định tiến sâu hơn nữa vào vùng Nga cho là khu vực an ninh ảnh hưởng trực tiếp của Nga. Đây cũng chính là một trở ngại không dễ gì vượt qua đối với việc thực hiện vai trò "sen đầm" của NATO và Mỹ.

Việc Mỹ và NATO tấn công Nam Tư cũng đã gây ra phản ứng gay gắt của Trung Quốc. Tuy Thủ tướng Chu Dung Cơ vẫn đi Mỹ, nhưng cuộc khủng hoảng này sẽ làm cho Trung Quốc trong lúc cải thiện quan hệ với Mỹ sẽ đề cao cảnh giác hơn thái độ của Mỹ đối với Trung Quốc xung quanh các vấn đề bất đồng giữa hai nước, nhất là vấn đề Đài Loan.

Cho đến giờ, không ai đoán chắc được kết cục của cuộc "khủng hoảng Kosovo". Không loại trừ khả năng quân NATO đổ bộ vào Kosovo, mặc dù có nhiều biểu hiện cho thấy kế hoạch này gặp nhiều trở ngại to lớn , những điều mà chắc chắn Mỹ và Tây Âu phải cân nhắc. Tuy nhiên có thể thấy cái giá phải trả cho một cuộc can thiệp như vậy là rất lớn, đặc biệt là về chính trị, đó là chưa nói đến tổn thất về người và tiền của của Mỹ và NATO; Cái giá phải trả cho một nền độc lập thông qua "cưỡng chế" cũng là vô cùng đắt và kết quả cũng rất bấp bênh - đây là bài học thực tế rút ra từ sau hiệp đinh Đây-tơn (1995) ở Bôx-nia Héc-xê-gô-vi-na... Hơn nữa, người ta cũng đang chứng kiến một cuộc vận động ngoại giao ráo riết mà trong đó dường như các nưóc lớn đã có cố gắng hợp tác hơn để tìm giải pháp hoà bình. Đó là con đường mà mọi dân tộc đều mong muốn kể cả nhân dân Mỹ và NATO.

Tài liệu tham khảo :

1.Clissold, Stephen (chủ biên), A Short History of Yugoslavia, Cambridge University Press, 1966

2.Zarka, Jean-Claude, "L'OTAN"- Que sais-je ? Presses Universitaire de France, 1997.

3.Gnesotto, Nicole, "La défense européenne au carrefour de la Bosnie et de la CIG", Politique étrangère, IFRI, 1/1996, tr. 113.

4.Maull, Hanns W., "Germany in the Yugoslav Crisis", Survival, t. 37, No 4, Đông 1995-1996, tr. 99.

5."Bosnia's bitter peace", The Economist, 25/11/1995, tr. 11.

6."Peace at last, at least for now". The Economist, 25/11/1995, tr.19.

7.Các báo Pháp: Le Monde, Le Nouvel Obsevateur các số từ 19/3/1999 đến 20/4/1999. Le Monde diplomatique các số từ tháng 5/1998 đến 3/1999.

Linked websites