Số 28 - 1999 - một năm khó khăn cho quan hệ Mỹ - Trung

1999 - một năm khó khăn cho quan hệ Mỹ - Trung

Tác giả: Nguyễn Thu Hằng

Chuyến viếng thăm cấp cao của tổng thống Mỹ B. Clinton sang Trung Quốc (6/1998) đánh dấu đỉnh cao của quan hệ Mỹ-Trung kể từ khi chiến tranh lạnh kết thúc. Hai bên đã nhất trí xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược hướng tới thế kỷ 21 với thoả thuận tượng trưng không nhằm các tên lửa mang đầu đạn hạt nhân vào lãnh thổ của nhau. Tuy nhiên, khi những ồn ào xung quanh thành công của chuyến đi chưa kịp lắng xuống, thì quan hệ hai nước lại có chiều hướng đi xuống. Điều gì khiến cho mối quan hệ giữa họ thiếu ổn định như vậy ? Có thể nói cả hai nước đều mong muốn phát triển quan hệ với nhau, nhưng trên thực tế còn tồn tại nhiều mâu thuẫn chưa giải quyết giữa hai bên khiến cho kết quả chuyến thăm cấp cao của tổng thống Mỹ sang Trung Quốc chỉ mang ý nghĩa tượng trưng hơn là thực chất. Bước sang năm 1999, Trung Quốc có nhiều dịp kỷ niệm lớn : 50 năm thành lập nước CHND Trung Hoa, 10 năm sự kiện Thiên An Môn, đồng thời nước Mỹ cũng chuẩn bị cho cuộc bầu cử tổng thống năm 2000. Điều đó báo hiệu năm 1999 là một năm nhạy cảm trong quan hệ Mỹ-Trung.

1/ Chuyến thăm cấp cao của tổng thống Mỹ B. Clinton - đỉnh cao quan hệ hai nước - tượng trưng hơn là thực chất :

Tầm quan trọng chiến lược của khu vực Châu A'-TBD cộng với vai trò nước lớn của Trung Quốc khiến nước này chiếm một vị trí quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ. Người Mỹ hiểu rằng sự tham gia của Trung Quốc vào nhiều vấn đề toàn cầu cũng như khu vực là điều kiện tiên quyết để có thể đi tới giải pháp cho những vấn đề đó, không nước nào được lợi một khi đối đầu nhau. Đây cũng chính là lý lẽ cơ bản để chính sách dính líu với Trung Quốc thắng thế so với chính sách ngăn chặn truyền thống được Mỹ theo đuổi trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Từ cuối những năm 70 Trung Quốc đã bắt tay vào cải cách kinh tế theo hướng thị trường, con đường duy nhất để Trung Quốc phát triển kinh tế. Để cải cách kinh tế thành công, Trung Quốc rất cần vốn và kỹ thuật của Mỹ, nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới cộng với tiềm năng kỹ thuật cao. Việc phát triển tốt đẹp quan hệ song phương cùng nằm trong lợi ích chung của cả hai nước.

Quan hệ Mỹ - Trung trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm, có lúc là đồng minh, có lúc là kẻ thù của nhau, nhưng một điều xuyên suốt quan hệ của họ là nhân tố đấu tranh, kiềm chế nhau luôn tồn tại. Thực tế lịch sử cho thấy, Mỹ - Trung chỉ là "bạn" của nhau khi họ cùng hướng tới một kẻ thù chung, như Liên Xô trước đây chẳng hạn. Việc Liên Xô tan rã sau chiến tranh lạnh khiến cơ sở vốn có cho quan hệ đồng minh không còn, chỉ còn lại hai nước với hai hệ thống giá trị khác biệt nhau. Tháng 2/1995 chính quyền Mỹ đề ra chiến lược toàn cầu dính líu và mở rộng với nội dung chủ yếu là bảo vệ và mở rộng các nền dân chủ thị trường trên thế giới dưới vai trò lãnh đạo của Mỹ. Với khu vực Châu A'-TBD, Mỹ cam kết duy trì sự có mặt về quân sự, củng cố quan hệ đồng minh sẵn có đồng thời thực hiện chính sách can dự tích cực với Trung Quốc. Thực chất chính sách này gồm cả hai yếu tố lôi kéo và kiềm chế. Một mặt Mỹ lôi kéo Trung Quốc tham gia vào các công việc quốc tế, mở rộng dân chủ, thúc đẩy kinh tế thị trường trong nước, mặt khác tìm cách bao vây phong toả về mặt an ninh quân sự, gây sức ép về kinh tế và chính trị buộc Trung Quốc phải đi theo quỹ đạo của Mỹ trong khi Trung Quốc luôn mong muốn thế giới sẽ phát triển theo hướng đa cực sau chiến tranh lạnh. Trên thực tế, Mỹ ngày càng cố gắng chứng tỏ ưu thế siêu cường duy nhất của mình, thao túng hầu hết các diễn biến trên thế giới, đặc biệt, xu thế dùng bạo lực giải quyết các vấn đề quốc tế của Mỹ ngày càng được khẳng định. Trong báo cáo quốc phòng công bố đầu tháng 2/1999, Mỹ tuyên bố sẽ làm bất cứ điều gì, kể cả sức mạnh quân sự, để bảo vệ lợi ích sống còn của Mỹ, khẳng định chiến lược tấn công trước đối với nước khác. Trung Quốc một mặt công khai phản đối chính sách dùng vũ lực của Mỹ, như cùng với Nga và Pháp phản đối Mỹ can thiệp quân sự đối với Iraq, và hiện nay tìm mọi cơ hội phản đối Mỹ và NATO can thiệp quân sự vào Kosovo, mặt khác, xúc tiến hiện đại hoá quân đội, đặc biệt là hải quân, tìm cách vươn lên vị trí cường quốc.

Quan hệ căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc sau sự kiện Thiên An Môn và khủng hoảng Đài Loan đã được khai thông bằng chuyến thăm Mỹ của chủ tịch Giang Trạch Dân cuối năm 1997. Chuyến thăm của tổng thống B. Clinton đến Trung Quốc năm 1998 là chuyến thăm đáp lễ, đồng thời cũng do sự thúc bách của một số diễn biến mới trong khu vực như cuộc khủng hoảng tiền tệ Đông A', tình hình an ninh ở Nam A' sau vụ thử hạt nhân của Â'n Độ và Pakistan cũng như những tính toán chính trị nội bộ hai nước. Chuyến thăm đã được cả hai nước cho là thành công lớn về chính trị. Với Trung Quốc, đây là mốc quan trọng đánh dấu sự bình thường hoá hoàn toàn quan hệ hai nước sau sự kiện Thiên An Môn. Hơn nữa, do cuộc khủng hoảng hạt nhân Nam A', lần đầu tiên sau chiến tranh lạnh, Trung Quốc ngồi vào bàn thảo luận với Mỹ về tình hình an ninh của khu vực này trong tư thế một nước lớn bằng vai phải lứa. Trong khi đó, tổng thống Mỹ, trước con mắt theo dõi của hầu khắp thế giới, đã được phép phát biểu về nhân quyền và các giá trị Mỹ một cách tự do ngay trên đất Trung Quốc với hệ thống truyền hình trực tiếp, một điều chưa từng xảy ra trong quan hệ hai nước.

Sau chuyến viếng thăm, hai bên đã ký kết được hơn 40 văn bản thoả thuận trên nhiều lĩnh vực khác nhau cả về kinh tế, quân sự, văn hoá và các vấn đề quốc tế khác cùng với cam kết của Trung Quốc không phá giá đồng nhân dân tệ. Tuy nhiên, hai nước không ra được thông cáo chung, không đạt được thoả thuận nào đem lại sự chuyển biến trong quan hệ hai nước liên quan đến những vấn đề song phương chủ yếu còn tồn tại như nhân quyền, Đài Loan, triển vọng Trung Quốc gia nhập WTO, hay việc huỷ bỏ những hạn chế xuất khẩu kỹ thuật cao cho Trung Quốc, cũng như việc dành cho Trung Quốc qui chế tối huệ quốc vĩnh viễn(1), ngoài những nhân nhượng mang tính tượng trưng về nhân quyền và vấn đề Đài Loan. Trước chuyến thăm của tổng thống B. Clinton, Trung Quốc đã có một số động thái nới lỏng bầu không khí chính trị trong nước nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho chuyến đi. Trung Quốc đã trả tự do và cho phép một số nhân vật bất đồng chính kiến như Nguỵ Kinh Sinh, Vương Đán được sang Mỹ định cư, đồng ý ký Công ước Liên Hợp Quốc về quyền chính trị và dân sự, cho phép đài Châu A' tự do, một đài bị coi là có thái độ thù địch chống Trung Quốc, được vào Trung Quốc đưa tin về chuyến viếng thăm, và bản thân việc tổng thống Mỹ đi đến đâu cũng không ngớt tuyên truyền về giá trị dân chủ Mỹ mà không bị gây khó dễ, là một biểu hiện nhân nhượng của Trung Quốc. Tuy nhiên, thái độ nhân nhượng này của Trung Quốc không đảm bảo một sự thay đổi vững chắc nào về chính trị ở nước này và Trung Quốc trên thực tế cũng chưa đồng ý ký vào bản Công ước về nhân quyền của Liên Hợp Quốc như Mỹ mong muốn. Về vấn đề Đài Loan, Trung Quốc muốn Mỹ có cam kết cụ thể trên văn bản chính sách "ba không" : không thừa nhận hai nước Trung Quốc, không công nhận Đài Loan độc lập, không ủng hộ Đài Loan vào Liên Hợp Quốc. Để làm hài lòng Trung Quốc, tổng thống Mỹ, thay vì cam kết trên giấy tờ, đã tuyên bố miệng tán thành chính sách "ba không" đối với Đài Loan. Thực chất tuyên bố của tổng thống B. Clinton về Đài Loan chỉ mang ý nghĩa làm sáng tỏ hơn chính sách Đài Loan của Mỹ chứ không hàm ý bất kỳ sự thay đổi nào(2). Với tuyên bố này, không ai có thể đảm bảo được rằng Mỹ sẽ không can thiệp nếu Trung Quốc lại có hành động thống nhất Đài Loan bằng quân sự.

2/ Quan hệ Mỹ-Trung sau chuyến viếng thăm cấp cao - triển vọng quan hệ năm 1999 :

Mặc dù quan hệ Mỹ-Trung đã được cải thiện đáng kể sau chuyến thăm, những nhân tố bất ổn định cơ bản vẫn bao trùm quan hệ hai nước. Tham vọng cường quốc của mỗi nước tạo nên khoảng cách lớn về chiến lược an ninh giữa hai bên, đặc biệt trong khu vực Châu A' - Thái Bình Dương. Tham vọng này làm cho các mâu thuẫn song phương vốn có giữa hai nước ở trong tình trạng khó lòng đạt được giải pháp trong tương lai gần. Các vấn đề Đài Loan, nhân quyền, kiểm soát vũ khí . . . là những vấn đề thường trực, trong những điều kiện nhất định, lúc nào cũng có thể nổi lên gây căng thẳng cho quan hệ hai nước. Đối với cả Trung Quốc và Mỹ, năm 1999 là năm tương đối nhạy cảm. ở Mỹ đang chuẩn bị bước vào cuộc bầu cử tổng thống năm 2000. Kinh nghiệm của các đợt bầu cử tổng thống trước cho thấy vấn đề quan hệ với Trung Quốc sẽ trở thành một trong những điểm nóng của cuộc đấu tranh trong nội bộ chính quyền Mỹ.

Cuối năm 1998 chính phủ Trung Quốc quay lại chính sách kiểm soát chặt chẽ, bắt giữ các phần tử ly khai, đặc biệt là hàng ngũ lãnh đạo đảng Dân chủ mới được thành lập. Đầu năm 1999 hai nước tiến hành kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao trong không khí lạnh nhạt. Phe cứng rắn trong nội bộ Mỹ cho rằng những tiến bộ về nhân quyền cũng như mức độ mở cửa thị trường của TQ là chưa đủ, họ kêu gọi chính phủ ra nghị quyết lên án nhân quyền ở Trung Quốc. Đến cuối tháng 2/1999 thượng viện Mỹ đã thông qua nghị quyết lên án Trung Quốc vi phạm nhân quyền và trước sức ép của đảng Cộng Hoà, hiện Mỹ đang bảo trợ cho nghị quyết lên án Trung Quốc ở Hội nghị nhân quyền quốc tế ở Geneva.

Song song với việc lên án Trung Quốc về nhân quyền, họ còn kêu gọi chính phủ không thay đổi chính sách với Đài Loan, yêu cầu đưa cả Đài Loan vào hệ thống phòng chống tên lửa TMD. Việc xây dựng hệ thống phòng chống tên lửa này xuất phát từ cuộc khủng hoảng tên lửa Triều Tiên nổ ra cuối tháng 8/98, với việc Bắc Triều Tiên phóng tên lửa qua đất Nhật. Sự kiện này góp phần quan trọng thúc đẩy hợp tác quân sự chặt chẽ hơn giữa Mỹ và Nhật Bản. Chỉ sau cuộc khủng hoảng gần một tháng, Mỹ-Nhật đã thoả thuận cùng nghiên cứu kỹ thuật hệ thống phòng chống tên lửa chiến trường gọi tắt là TMD (Theatre Missile Defence). Trong tháng hai vừa qua, quốc hội Mỹ đã bàn và sau đó thông qua kế hoạch này. Căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc chủ yếu xoay quanh ý định của Mỹ đặt Đài Loan vào phạm vi bảo vệ của TMD. Kế hoạch gộp cả Đài Loan vào hệ thống TMD dĩ nhiên vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ phía Trung Quốc. Họ còn đe doạ sẽ nghiên cứu tên lửa mang đầu đạn hạt nhân để chống lại bằng mọi giá. Để tỏ rõ lập trường kiên quyết của mình, đầu tháng 2/1999 vừa rồi, Trung Quốc đã công khai tiết lộ việc bố trí dọc eo biển Đài Loan 100 tên lửa tầm ngắn nhằm vào hòn đảo này. Phản ứng gay gắt của Trung Quốc càng làm tăng thêm những cuộc thảo luận ở Mỹ về sự cần thiết phải phòng thủ cho các khu vực dễ gây tổn thương nhất cho lợi ích của Mỹ ở CA-TBD, trước hết là Nhật Bản, Hàn Quốc và cả Đài Loan(3). Tuy nhiên, trước thái độ kiên quyết của Trung Quốc, vấn đề có đưa Đài Loan vào hệ thống TMD hay không vẫn được để ngỏ, nhưng phía Nhật Bản đã có tuyên bố không nên đưa Đài Loan vào chương trình này.

Trên lĩnh vực kinh tế, cuối 1998, lo ngại có sự bất ổn về mặt xã hội xuất phát từ con số thất nghiệp cao do chính sách đóng cửa các công ty quốc doanh thua lỗ, Trung Quốc đã phải giảm nhịp độ tư nhân hoá, nhưng người ta tin rằng Trung Quốc vẫn cam kết tiếp tục cải cách vì đây là con đường duy nhất đem lại phát triển kinh tế cho đất nước này(4). Với tốc độ cải cách kinh tế có phần chậm lại cộng thêm những rắc rối về nhân quyền, quan hệ thương mại Mỹ-Trung có khả năng tiến triển khó khăn. Trong vòng đàm phán thương mại hai bên cuối tháng 2/1999, vòng đàm phán cuối cùng trước cuộc bầu cử ở Mỹ năm 2000, hai bên đã không đạt được tiếng nói chung trên cả hai vấn đề chủ yếu : thâm hụt mậu dịch và việc Trung Quốc gia nhập WTO. Năm 1998, Mỹ thâm hụt mậu dịch với Trung Quốc 57 tỷ USD, tăng 14 % so với năm trước. Thêm vào đó, hy vọng của Trung Quốc được Mỹ xoá bỏ cấm vận kỹ thuật cao cũng trở nên mong manh khi quốc hội Mỹ xem xét bản báo cáo của uỷ ban Cox, dưới sự bảo trợ của đảng Cộng hoà, tố cáo Trung Quốc mua kỹ thuật cao của Mỹ một cách bất hợp pháp trong vòng hai thập kỷ qua và kỹ thuật này có thể được Trung Quốc dùng vào mục đích quân sự chống lại nền an ninh của Mỹ(5). Nếu như tính xác thực của báo cáo này được khẳng định và được công bố, đây sẽ là cơ hội tốt cho phái chống lại chính sách can dự của tổng thống B. Clinton ở Mỹ và chắc chắn sẽ có ảnh hưởng xấu đến quan hệ Mỹ - Trung. Tuy nhiên, để tránh cho quan hệ hai nước đổ vỡ, tổng thống B. Clinton đã ra lệnh hoãn truy cứu tiếp việc tố cáo Trung Quốc tìm kiếm kỹ thuật cao của Mỹ một cách bất hợp pháp.

Quan hệ Mỹ-Trung là một trong những cặp quan hệ quan trọng trong hệ thống quan hệ quốc tế hiện nay. Hoà bình và ổn định quốc tế phụ thuộc rất nhiều vào mối quan hệ này, điều đó càng đúng hơn với những nước ở khu vực Châu A' -TBD. Thực tế hai nước có nhiều điểm đồng trên nhiều vấn đề quốc tế cũng như khu vực quan trọng, như cùng mong muốn hoà bình trên bán đảo Triều Tiên, muốn kiềm chế sức mạnh quân sự của Nhật Bản, hay trên những vấn đề chống ma tuý, tội phạm quốc tế.... Mặc dù vậy giữa họ còn nhiều bất đồng cơ bản khiến cho quan hệ hai nước bất ổn, lúc lên lúc xuống và chứa đựng nhiều nhân tố bất ngờ khó lường trước . Tuy nhiên, bên cạnh những căng thẳng kể trên, thực tế cho thấy hai nước vẫn cần duy trì quan hệ, tránh đổ vỡ. Trong năm 1999, hai nước vẫn có kế hoạch tiếp tục các cuộc trao đổi cấp cao, các cuộc giao lưu quân sự như dự định nối lại đàm phán về nhân quyền sau 5 năm gián đoạn, cùng nhiều hoạt động khác. Chắc chắn hai bên đã và sẽ có nhân nhượng để quan hệ không đi đến đổ vỡ. Trong bối cảnh Mỹ và NATO can thiệp quân sự vào Nam Tư, mặc dù phản đối, nhưng khác với Nga, thủ tướng Chu Dung Cơ vẫn đến thăm Mỹ vào đầu tháng tư vừa qua. Bản thân chuyến thăm này là một biểu hiện mềm dẻo của Trung Quốc.

Bước khởi đầu quan hệ hai nước Mỹ-Trung năm 1999 tỏ ra có nhiều khó khăn. Tuy nhiên tương lai quan hệ còn phụ thuộc nhiều vào những bước đi cụ thể tiếp theo dựa trên những tính toán lợi ích chính trị cũng như kinh tế của lãnh đạo hai nước. Nhìn chung, xét theo cung cách Mỹ thực hiện chính sách đối ngoại hiện nay trên thế giới, có thể thấy Mỹ tỏ ra cứng rắn trên lĩnh vực an ninh quân sự. Vấn đề Đài Loan sẽ tiếp tục được Mỹ sử dụng một cách linh hoạt nhằm ép Trung Quốc nhượng bộ trên các vấn đề khác như giải quyết tình hình bán đảo Triều Tiên hay chuyển giao vũ khí cho các nước thứ ba. Lĩnh vực có khả năng đạt được nhượng bộ từ cả hai phía là kinh tế. Trong bối cảnh Mỹ và NATO đang can thiệp quân sự vào Kosovo, Mỹ cũng cần lôi kéo Trung Quốc nhằm tránh những phản ứng gay gắt từ nước này. Trong khi đó, Trung Quốc, với mong muốn trở thành thành viên Tổ chức thương mại thế giới, cũng đã có nhiều nhân nhượng trong lĩnh vực kinh tế. Tháng 2/1999 vừa qua, Quốc hội Trung Quốc đã thông qua bản tu chính hiến pháp, theo đó vai trò của khu vực tư nhân được công nhận như một thành phần chính của nền kinh tế, chứ không phải chỉ là khu vực hỗ trợ cho kinh tế quốc doanh. Đây là biểu hiện chứng tỏ quyết tâm cải cách của Trung Quốc. Với mục tiêu kinh tế, thủ tướng Chu Dung Cơ sang thăm Mỹ đầu tháng 4 vừa rồi với nhiều đề nghị đáp ứng đòi hỏi mở cửa thị trường của Mỹ. Mặc dù còn một số bất đồng, hai bên đều ghi nhận có nhiều tiến bộ và khả năng đạt được thoả thuận chấp nhận Trung Quốc làm thành viên Tổ chức thương mại thế giới trước cuối năm nay. Mốc bầu cử năm 2000 ở Mỹ mang tính hai mặt. Một mặt đây là hạn chế về thời gian. Nếu TQ không đạt được sự đồng ý của Mỹ về vấn đề gia nhập WTO thì Trung Quốc khó có thể đạt được điều này trong vài năm tới. Mặt khác, vì B. Clinton đã ở vào năm cuối của nhiệm kỳ II, có thể ông ta cũng muốn thúc đẩy chính sách can dự với Trung Quốc mà không sợ ảnh hưởng đến chiếc ghế tổng thống. điều này có thể có lợi cho Trung Quốc./.

***

Chú thích:

1.Thông tấn xã Việt nam, Tin tham khảo chủ nhật ngày 9/8/1998, tr. 1-6.

2. Denny Roy, Current Sino-US Relations in Strategic Perspective, in "Contemporary Southeast Asia", V.20, no.3, Dec. 1998, tr.232.

3. tin A ngày 12/2/1999.

4. Far eastern Economic Review,14/1/1999, tr.12.

5. Far eastern Economic Review, 14/1/1999, tr.14./.

Linked websites