Số 29 - Về xu hướng can thiệp quân sự của Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh

Về xu hướng can thiệp quân sự của Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh

Tác giả: Lê Linh Lan.

Chiến tranh lạnh kết thúc, một lần nữa lại đem đến cho Mỹ cơ hội thực hiện tham vọng lãnh đạo thế giới của mình. Sự sụp đổ của Liên Xô đã làm cho Mỹ trở thành siêu cường duy nhất trên thế giới. Và vị trí siêu cường duy nhất của Mỹ gần như không bị thách thức trong vài thập kỷ tới. Cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế ở châu A' lại góp phần làm tăng thế và lực của Mỹ hơn bao giờ hết. Nhật Bản, nền kinh tế thứ hai thế giới, đang chìm sâu trong cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng đã kéo dài gần một thập kỷ. Trong khi đó, kinh tế Mỹ tiếp tục đi vào năm thứ 8 của chu kỳ phát triển, chu kỳ phát triển thời bình dài lâu nhất trong lịch sử nước Mỹ. Thế và lực mạnh áp đảo của Mỹ dường như đang được thể hiện trong xu hướng Mỹ tăng cường can thiệp quân sự ở các nơi trên thế giới. Trong bối cảnh này, bài viết nhìn lại chính sách can thiệp quân sự của Mỹ từ khi chiến tranh lạnh kết thúc đến nay, cố gắng đưa ra những đánh giá sơ bộ về chính sách can thiệp quân sự của Mỹ và tác động của nó đối với hòa bình và an ninh quốc tế.

Điều chỉnh chiến lược của Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh:

Chiến lược toàn cầu ngăn chặn và vượt trên ngăn chặn của Mỹ trong thời kỳ chiến tranh lạnh đã trở lên lỗi thời với sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu. Chính quyền Bush, phấn khích với chiến thắng vùng Vịnh, đã đưa ra khái niệm "trật tự thế giới mới" với ý đồ sử dụng Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc là cơ sở pháp lý cho vai trò lãnh đạo của Mỹ. Clinton lên nắm quyền từ 1/1993, và là tổng thống Mỹ đầu tiên được bầu trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh. Phải mất hơn 2 năm, sau những cuộc tranh cãi gay gắt trong nội bộ Mỹ và sự đấu tranh giữa hai trường phái theo chủ nghĩa biệt lập và chủ nghĩa quốc tế, chính quyền Clinton mới hoàn thành việc xây dựng một chiến lược toàn cầu mới để đối phó với thực tế chiến lược mới thời kỳ sau chiến tranh lạnh. Tháng 2 năm 1995, chính phủ Mỹ công bố "chiến lược dính líu và mở rộng" cho những năm 90 với mục tiêu bao trùm là "mở rộng cộng đồng các nền dân chủ thị trường". Mỹ cũng tuyên bố "tiếp tục có những cam kết đối với thế giới và sẽ hành động linh hoạt, đa phương khi có thể và đơn phương khi cần thiết".

Chính quyền Clinton nhấn mạnh ba trụ cột trong chính sách đối ngoại là an ninh kinh tế, an ninh quân sự và thúc đẩy dân chủ nhân quyền. Đây là lần đầu tiên dân chủ nhân quyền trở thành một trụ cột chính trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Những chính quyền trước đó luôn coi việc thúc đẩy dân chủ nhân quyền là một trong những mục tiêu trong chính sách đối ngoại, nhưng dưới chính quyền Clinton, dân chủ nhân quyền được đẩy lên thành một trọng tâm chính sách của Mỹ bên cạnh an ninh và kinh tế.

Về quân sự, Mỹ cho rằng chiến lược dính líu và mở rộng vẫn phải dựa trên xây dựng lực lượng vũ trang mạnh, đủ sức khống chế đồng minh và đủ khả năng đối phó với những thách thức và đe dọa đối với Mỹ sau chiến tranh lạnh. Chiến lược quốc phòng Mỹ(1) nêu 6 thách thức và 3 quan ngại an ninh của Mỹ. Sáu thách thức bao gồm : 1/ xâm lược quy mô lớn giữa các quốc gia (Iraq, Iran, Bắc Triều Tiên) ; 2/ phổ biến công nghệ tiềm tàng nguy hiểm (hạt nhân, hóa học, khả năng chiến tranh tin học, khả năng tiếp cận và ngăn không cho tiếp cận vũ trụ) : 3/ những mối đe dọa xuyên quốc gia (khủng bố, buôn lậu ma túy, tội ác quốc tế có tổ chức) ; 4/ những đe dọa đối với lãnh thổ nước Mỹ (tên lửa đạn đạo, các phương tiện chiến tranh tin học tấn công cơ sở hạ tầng của Mỹ thông qua các mạng thông tin dựa trên máy vi tính) ; 5/ những nước sụp đổ (những nước như Nam Tư, Albania, nước Zaire trước đây... có khả năng mất kiểm soát gây ra khủng hoảng nhân đạo, người tị nạn và gây ra mất ổn định cho an ninh khu vực) ; 6/ đối thủ sử dụng những biện pháp không tương xứng (Adversary use of asymmetric means) : để tránh đối đầu với khả năng quân sự mạnh mẽ của Mỹ, những đối thủ của Mỹ sẽ sử dụng những phương tiện không truyền thống như khủng bố, đe dọa hạt nhân hay vũ khí hóa học, chiến tranh tin học hay phá hoại môi trường.

Bên cạnh đó, Mỹ còn có những quan ngại an ninh dài hạn khác :1/ tiềm năng xuất hiện một nước cạnh tranh toàn cầu. Từ nay đến 2015, Mỹ tiếp tục giữ được vị trí siêu cường duy nhất của mình. Tuy nhiên, từ sau 2015, Trung Quốc và Nga có tiềm năng thách thức vị trí siêu cường duy nhất của Mỹ, mặc dù tương lai của những nước này cũng chưa chắc chắn; 2/ kịch bản con bài tẩy (wild card scenario) : sự xuất hiện của những thách thức công nghệ mới, Mỹ mất quyền tiếp cận đối với những phương tiện sống còn, và các chế độ thù địch thay thế các chế độ thân thiện với Mỹ ở các nước; 3/ quan ngại về sự thay đổi môi trường an ninh nếu Mỹ không can dự vào các công việc của thế giới và mất vị trí áp đảo về quân sự của mình.

Từ khi chiến tranh lạnh kết thúc, Mỹ đã ba lần điều chỉnh chiến lược quân sự. Chiến lược phòng thủ khu vực được Bush đưa ra năm 1991, trong bối cảnh chiến tranh lạnh vừa kết thúc. Sau khi Clinton lên cầm quyền vào năm 1993, Mỹ lại tiến hành đánh giá lại tình hình và chiến lược quốc phòng. Clinton đưa ra chiến lược tham dự linh hoạt và có lựa chọn. Năm 1997, chính quyền Clinton một lần nữa xem xét lại môi trường an ninh, nhu cầu xây dựng quốc phòng và đưa ra chiến lược mới xuyên thế kỷ "xây dựng - phản ứng - chuẩn bị". Như vậy, trọng điểm xây dựng quân đội Mỹ chuyển từ chuẩn bị tiến hành chiến tranh toàn diện trong thời kỳ chiến tranh lạnh sang "phòng thủ dự phòng"(2) thời kỳ sau chiến tranh lạnh ; tác dụng răn đe hạt nhân giảm, tầm quan trọng của răn đe vũ khí thông thường với kỹ thuật cao tăng lên ; đối phó với các vấn đề khu vực, ngăn ngừa đối thủ mới, đặc biệt là mối đe dọa từ các nước thế giới thứ ba đối với lợi ích của Mỹ ; việc đánh thắng cùng một lúc hai cuộc chiến tranh khu vực trở thành sứ mạng mới và nhiệm vụ mới của quân đội Mỹ.

Năm 1997, Clinton đã đưa ra Chiến lược an ninh quốc gia cho thế kỷ 21 của Mỹ. Trong Bản báo cáo chiến lược an ninh quốc gia này, Mỹ đã khẳng định: lợi ích quốc gia và nguồn lực hạn chế của Mỹ cho thấy sự cần thiết sử dụng vũ lực một cách lựa chọn. Mục tiêu trước hết của các lực lượng Mỹ là răn đe và đánh bại đe dọa sử dụng vũ khí có tổ chức chống lại Mỹ "Quyết định có hay không và khi nào sử dụng vũ lực phải chỉ đạ trước hết bởi lợi ích quốc gia Mỹ đang bị đe dọa - dù là lợi ích sống còn, lợi ích quan trọng hay nhân đạo về thực chất - và bởi liệu cái giá và mạo hiểm của việc Mỹ can thiệp có tương xứng với những lợi ích đó hay không. Khi những lợi ích bị đe dọa có tính chất sống còn, Mỹ sẽ làm bất cứ điều gì để bảo vệ những lợi ích này, kể cả đơn phương sử dụng vũ lực khi cần thiết. Theo bản báo cáo, những lợi ích quốc gia sống còn của Mỹ bao gồm :

1. Bảo về chủ quyền, lãnh thổ, và nhân dân Mỹ;

2. Ngăn chặn sự nổi lên của các liên minh thù địch hay bá quyền khu vực;

3. Bảo đảm tiếp cận không hạn chế đối với những thị trường chủ chốt, nguồn cung cấp năng lượng và các nguồn lực chiến lược;

4. Răn đe và đánh bại khi cần thiết các cuộc xâm lược chống đồng minh và bạn bè của Mỹ;

5. Đảm bảo tự do hàng hải, đường sắt và vũ trụ và những đường giao thông huyết mạch.

Để đạt được mục tiêu chiến lược bao trùm của Mỹ là thiết lập vai trò lãnh đạo thế giới, Mỹ chủ trương cải tổ các liên minh an ninh song phương cho phù hợp với tình hình mới. Từ thời Nixon, Mỹ đã chú trọng hơn đến việc hợp tác với đồng minh và chia sẻ trách nhiệm. Tuy nhiên, Bush và Clinton đã đi tiếp một bước, coi sự ủng hộ và đóng góp của đồng minh là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự can thiệp của Mỹ vào một cuộc xung đột. Một mặt ý thức được khả năng không cho phép, mặt khác hợp tác và chia sẻ trách nhiệm nhằm xoa dịu dư luận Mỹ đặc biệt trường phái chủ trương biệt lập luôn chỉ trích việc Mỹ phải gánh vác trách nhiệm bảo vệ an ninh cho những nước là đồng minh quân sự nhưng lại là những đối thủ cạnh tranh quyết liệt về kinh tế như Nhật Bản và Tây Âu. Vì vậy, một trong những trọng tâm chính sách của Mỹ thời kỳ chiến tranh lạnh là chủ trương duy trì và thậm chí tăng cường các liên minh an ninh song phương với Nhật, Hàn Quốc, Thái Lan, úc và Philippines ở châu á và NATO ở châu Âu để đối phó với những thách thức mới. Hơn nữa, trong bối cảnh những bất đồng ngày càng sâu sắc giữa Mỹ một bên, Nga và Trung Quốc 1 bên, khả năng sử dụng cơ chế Liên Hợp Quốc để đảm bảo tính hợp pháp quốc tế cho các hoạt động can thiệp của Mỹ trở nên rất hạn chế. Việc Nga và Trung Quốc và ngay cả Pháp phản đối Mỹ tấn công Iraq tháng 12/98 là bằng chứng rõ rệt đối với Mỹ về hiệu quả của cơ chế này. Vì vậy, xu hướng Mỹ duy trì và nâng cấp các dàn xếp an ninh song phương và đa phương nằm trong ý đồ lâu dài của Mỹ thực hiện tham vọng lãnh đạo thế giới với sự hỗ trợ vật chất cũng như tinh thần của các đồng minh phương Tây của Mỹ.

Chính sách can thiệp quân sự của Mỹ trong những năm 90 : từ vùng Vịnh đến Kosovo:

Sự kết thúc của chiến tranh lạnh dường như không hứa hẹn về một kỷ nguyên hòa bình cho mọi dân tộc trên thế giới. Mặc dù nguy cơ về một cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 3 không lớn, người ta vẫn phải chứng kiến hàng loạt các cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo lãnh thổ bùng nổ ở nhiều nơi trên thế giới. Từ Bosnia, Croatia, Chechnia đến Somalia, Haiti, Rwanda, Angolia, con số lên tới 90 cuộc xung đột quân sự đã xảy ra từ khi Liên Xô sụp đổ(3). Mỹ đã 40 lần tiến hành can thiệp quân sự, trong đó có 10 lần can thiệp vũ trang thô bạo(4).

Khó có thể rút ra kết luận về một mẫu hình can thiệp quân sự của Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh. Bởi vì lý do, ý đồ can thiệp và biện pháp can thiệp của Mỹ trong những trường hợp này rất đa dạng. Mỹ huy động một lực lượng đa quốc gia gồm 30 nước tham gia vào chiến dịch "Bão táp sa mạc" và đưa quân bộ binh vào Iraq nhằm giải phóng Kuwait với lập luận rằng lợi ích quốc gia sống còn của Mỹ bị đe dọa. Dưới ngọn cờ gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc, Mỹ đã can thiệp "chống chế độ độc tài, không dân chủ và nhân quyền" ở Haiti. Trong trường hợp Somalie, Mỹ can thiệp đưa quân vào dưới danh nghĩa để giải quyết một cuộc khủng hoảng nhân đạo.

Mỹ đã khẳng định Mỹ chỉ đưa quân ra nước ngoài khi lợi ích sống còn của Mỹ và đồng minh bị thực sự đe dọa, được sự ủng hộ của quốc hội và đồng minh, chi phí có thể chấp nhận được, có sự chỉ huy và kiểm soát rõ ràng, khả năng giành thắng lợi cao, ít thương vong và có điểm rút ra rõ ràng(5). Năm 1995, Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Perry lại đưa ra những điều kiện để Mỹ can thiệp quân sự : cam kết hiệp định, khả năng và sự sẵn sàng đóng góp của các nước đặc biệt là các nước bị ảnh hưởng trực tiếp của cuộc xung đột, mục tiêu quân sự rõ ràng ủng hộ cho các mục tiêu chính trị. Tuy nhiên, những điều kiện can thiệp này có vẻ chỉ được đáp ứng trong trường hợp chiến tranh vùng Vịnh. Đối với trường hợp Kosovo, Mỹ khó có thể lý giải rằng lợi ích sống còn của Mỹ bị đe dọa bởi một cuộc xung đột sắc tộc trong phạm vi biên giới của một nước có chủ quyền. Mỹ cũng khó có thể tuyên bố công khai ý đồ lật đổ nhà

lãnh đạo Nam Tư "cứng đầu cứng cổ" để đưa nước Nam Tư, nước duy nhất ở Trung Âu không có ý định gia nhập NATO, vào quỹ đạo của mình. Mỹ càng không có thể tuyên bố công khai với thế giới ý đồ khẳng định lại vị trí lãnh đạo của mình đối với các đồng minh châu Âu ở NATO đang có xu hướng tách khỏi sự phụ thuộc vào Mỹ về an ninh quân sự. Đấy là chưa kể đến những mục tiêu ngầm của Mỹ đối với Nga và Trung Quốc, những đối thủ tiềm tàng của Mỹ trong thế kỷ 21. Cái cớ bảo vệ nhân quyền mà Mỹ và đồng minh NATO đưa ra khi can thiệp vào Kosovo khó có thể thuyết phục được ai bởi sự không nhất quán, và vấn đề tiêu chuẩn kép của Mỹ trong vấn đề dân chủ nhân quyền. Ngay ở châu Âu, chính sách đàn áp người Cuốc của chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ không những không bị lên án mà còn nhận sự ủng hộ nhất định từ các đồng minh NATO của mình.

Phân tích những điều kiện can thiệp quân sự và thực tế chính sách can thiệp của Mỹ, người ta dễ dàng nhận thấy ba nét nổi bật.

Thứ nhất, điều kiện quan trọng nhất để Mỹ can thiệp vào cuộc xung đột ngoài biên giới của mình được các nhà lãnh đạo Mỹ nhấn mạnh là khi lợi ích quốc gia sống còn của Mỹ bị đe dọa. Tuy nhiên trên thực tế bản thân việc xác định lợi ích nào là lợi ích quốc gia sống còn bị đe dọa lại là vấn đề rất lớn bởi không có một công thức rõ ràng nào để xác định nó. Điều này có nghĩa là các nhà lãnh đạo Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh có khả năng can thiệp vào một phạm vi các vấn đề rộng hơn và ít liên quan trực tiếp hơn đến cái gọi là lợi ích sống còn của Mỹ.

Thứ hai, những nhân tố nội bộ Mỹ đóng vai trò rất quan trọng trong các quyết định đối ngoại của Mỹ. Đấu tranh đảng phái, thời điểm trước bầu cử hay nhân tố cá nhân Tổng thống trong một trường hợp có thể có tác động không nhỏ đối với một cuộc phiêu liêu quân sự của nước Mỹ. Quyết định Mỹ tấn công Iraq tháng 12 năm 1998 vừa qua là một minh chứng điển hình cho mối liên hệ chặt chẽ giữa nhân tố đối nội và đối ngoại. Tổng thống Clinton đã phải tỏ ra quyết đoán và mạnh mẽ trong vấn đề Iraq để phần nào cải thiện hình ảnh của một vị tổng thống đang gặp nhiều bê bối. Việc Mỹ tấn công Kosovo vào thời điểm NATO kỷ niệm 50 năm ngày thành lập và chuẩn bị thông qua khái niệm chiến lược mới không chỉ trùng hợp ngẫu nhiên với thời kỳ Mỹ chỉ còn 1 năm nữa là bầu cử tổng thống. Khả năng chiến thắng của ứng cử viên đảng dân chủ chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng bởi kết cục cuộc chiến ở Kosovo. Kosovo cũng là một canh bạc lớn cuối cùng của Clinton với hy vọng làm mờ nhạt hình ảnh của một vị tổng thống của các vụ scandal.

Thứ ba, một nét nổi bật khác qua các lần can thiệp quân sự của Mỹ là sự cân nhắc hết sức thận trọng vấn đề triển khai quân Mỹ ở nước ngoài. Mỹ chủ yếu dùng các biện pháp quân sự như ném bom, phóng tên lửa để hỗ trợ cho các nỗ lực ngoại giao đưa các bên đến bên bàn đàm phán. Điều này dễ dàng được lý giải bởi thái độ của công chúng và Quốc hội Mỹ đối với việc đem quân ra nước ngoài, đặc biệt là từ sau cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Ngay cả trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh, chính quyền Mỹ chỉ có thể có được sự ủng hộ của Quốc hội sau khi tập hợp được một lực lượng ủng hộ quốc tế và có được một kế hoạch quân sự với mục tiêu quân sự rõ ràng và với sự đóng góp về tài chính cũng như về lực lượng của các đồng minh của Mỹ. Hơn nữa, Nghị quyết 678 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc tạo cơ sở pháp lý quốc tế cho Mỹ. Mỹ và quân đồng minh cũng chỉ tiến hành chiến tranh trên bộ trong 4 ngày với số thương vong tối thiểu. Tổng thống Clinton đã phải rất khó khăn mới thuyết phục được Quốc hội và công chúng Mỹ rằng việc triển khai quân Mỹ để đảm bảo cho Hiệp định hòa bình ở Bosnia có ý nghĩa sống còn đối với vai trò lãnh đạo của Mỹ ở NATO và hòa bình ở khu vực Balkan. Trường hợp Mỹ can thiệp ở Somalie và hình ảnh xác lính Mỹ bị kéo lê trên đường phố Mogadishu đã làm cả nước Mỹ bàng hoàng. Những cuộc thăm dò dư luận Mỹ gần đây nhất về cuộc chiến ở Balkan cũng chứng tỏ dư luận công chúng Mỹ không ủng hộ Mỹ gửi quân bộ binh đến Kosovo.

Sau Kosovo sẽ là Châu A' ?

Bàn về chính sách can thiệp quân sự của Mỹ, người ta không thể không tự hỏi liệu trong những hoàn cảnh nào thì Mỹ sẽ can thiệp ở châu A'? Và khả năng Mỹ can thiệp ở khu vực này lớn đến đâu và ở mức độ nào ? ở Châu A', hiện có ba điểm nóng tiềm tàng : Bán đảo Triều Tiên, vấn đề Đài Loan và tranh chấp biển Đông. Việc Mỹ duy trì liên minh an ninh Mỹ Nhật với tuyên bố Clinton-Hashimoto 4/1996 và thậm chí mở rộng phạm vi hiệp ước an ninh Mỹ Nhật bao gồm cả "khu vực xung quanh Nhật Bản" với việc sửa đổi phương châm hợp tác phòng thủ Mỹ Nhật 9/1997, dường như là một bước chuẩn bị cho sự can thiệp của Mỹ, với sự hỗ trợ hậu cần của lực lượng phòng vệ Nhật Bản. Gần đây nhất, tháng 12/1998, Nhật Bản đã quyết định tham gia chương trình phát triển hệ thống phòng thủ tên lửa chiến thuật (TMD) của Mỹ. Những diễn biến này không tránh khỏi gây quan ngại ở một số nước trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc.

Có năm yếu tố quan trọng phải tính đến khi trả lời câu hỏi liệu Mỹ có can thiệp quân sự ở Châu A'.

Thứ nhất, Châu A' không phải là khu vực ưu tiên số 1 của Mỹ. Sự chuyển hướng chính sách của Mỹ về Châu A'- Thái Bình Dương (CA-TBD) được thúc đẩy một phần bởi sự phát triển kinh tế thần kỳ của Đông A'. Thực tế này đã phần nào thay đổi . Và ngay cả lúc Mỹ điều chỉnh chính sách hướng về CA-TBD thì Châu Âu vẫn chiếm vị trí ưu tiên số 1. Chiến lược an ninh quốc gia cho thế kỷ mới của Clinton năm 1997 vẫn đặt Châu Âu và Âu-A' lên vị trí đầu tiên và nhấn mạnh "sự ổn định ở Châu Âu có ý nghĩa sống còn với an ninh của chính nước Mỹ"(6).

Thứ hai, việc Mỹ can thiệp vào Kosovo dưới danh nghĩa bảo vệ nhân quyền đã là một hồi chuông báo động đối với các nước. Lo ngại trước một nước Mỹ có thế mạnh áp đảo, bài học Kosovo chắc chắn sẽ được các nhà lãnh đạo các nước trên thế giới tính đến khi xử lý các vấn đề mâu thuẫn tôn giáo, sắc tộc quốc gia. Duy trì ổn định nội bộ, kiềm chế để các mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo hay xung đột lãnh thổ không leo thang và lan rộng thành các cuộc chiến tranh cục bộ sẽ là một biện pháp hữu hiệu để tránh sự can thiệp của các thế lực bên ngoài. Điều này có nghĩa cái cớ mà Mỹ dùng ở Kosovo chưa hẳn đã có nhiều cơ hội sử dụng ở các nơi khác.

Thứ ba, vũ khí hạt nhân là một nhân tố không thể không tính đến khi Mỹ cân nhắc khả năng Mỹ can thiệp vào một trong các điểm nóng tiềm tàng ở khu vực : Bắc Triều Tiên trong trường hợp Bán đảo Triều Tiên và Trung Quốc trong vấn đề Đài Loan và tranh chấp Biển Đông là những nước sở hữu vũ khí hạt nhân. Khả năng đảm bảo bị hủy diệt hoàn toàn vẫn có tác dụng răn đe to lớn. Trong trường hợp khủng hoảng trên Bán đảo Triều Tiên, Nhật Bản và Hàn Quốc, hai đồng minh của Mỹ ở khu vực nằm trực tiếp trong tầm tấn công của Bắc Triều Tiên. Thực tế Nam Tư không có vũ khí hạt nhân là một trong những nhân tố khiến Mỹ quyết định can thiệp trắng trợn vào Kosovo. So sánh giữa Bắc Triều Tiên và Iraq có thể cho ta thấy rõ hơn khả năng Mỹ can thiệp quân sự. Cả Iraq và Bắc Triều Tiên đều bị Mỹ nghi ngờ phát triển vũ khí hạt nhân và đòi hỏi hai nước này phải mở cửa các cơ sở bị tình nghi cho thanh tra của Tổ chức năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA). Tuy nhiên, trong trường hợp Bắc Triều Tiên, các bên liên quan đã đạt được một thỏa thuận khung, theo đó Bắc Triều Tiên đồng ý ngừng các chương trình phát triển vũ khí hạt nhân để đổi lấy 500.000 tấn HFO và các lò phản ứng nước nhẹ. Cơ chế chủ yếu để xây dựng các lò phản ứng nước nhẹ là Tổ chức phát triển năng lượng bán đảo Triều Tiên (KEDO). Đàm phán bốn bên giữa Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc, Mỹ và Trung Quốc cũng góp phần giảm căng thẳng và xây dựng lòng tin trên bán đảo Triêu Tiên. Chính sách ngoại giao "mặt trời tỏa sáng" của Hàn Quốc đối với Bắc Triều Tiên cũng là một nhân tố vô cùng quan trọng thúc đẩy đối thoại hòa bình trên bán đảo Triều Tiên.

Thứ tư, Mỹ phải tính đến vai trò của Trung Quốc, Nga và ở mức độ nào đó là Â'n Độ trong các vấn đề an ninh ở Châu A'. Nói một cách khác, thế đa cực tương đối vững chắc ở CA-TBD sẽ là một nhân tố cản trở những cuộc phiêu lưu quân sự của Mỹ ở Châu A'. Sau vấn đề bán đảo Triều Tiên, vấn đề Đài Loan là một vấn đề an ninh có tiềm năng gây mất ổn định ở khu vực. Quan hệ Mỹ - Trung Quốc đã đi đến đỉnh cao căng thẳng hồi năm 1996 khi Mỹ cử hai tàu sân bay đến vùng eo biển Đài Loan để răn đe cuộc tập trận của Trung Quốc ở khu vực này. Tuy nhiên, khi đến bên bờ của sự đổ vỡ, hai nước đã kịp thời điều chỉnh quan hệ và một giai đoạn nồng ấm trong quan hệ Mỹ Trung bắt đầu với quyết tâm xây dựng quan hệ đối tác chiến lược. Cho dù vẫn tồn tại những khác biệt cơ bản và những mâu thuẫn to lớn giữa hai nước, đã hình thành một nhận thức sâu sắc ở cả Mỹ và Trung Quốc về tầm quan trọng của hai nước này và sự cần thiết phải hợp tác để giải quyết những vấn đề khu vực và toàn cầu.

Cuối cùng, Mỹ khó có thể đảm bảo được sự ủng hộ của đồng minh của Mỹ ở Đông A', đặc biệt là Nhật Bản trong trường hợp Mỹ can thiệp ở khu vực này. Những lo ngại của Nhật Bản về tính không hợp pháp của việc Mỹ tấn công Kosovo mà không có nghị quyết ủng hộ Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc tương phản rõ nét với thái độ ủng hộ của Nhật Bản trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh. Nội bộ Nhật Bản cũng chưa có được sự nhất trí về vai trò cụ thể của Nhật Bản trong trường hợp Mỹ tiến hành can thiệp ở Châu A'. Nói tóm lại, Mỹ khó có thể trông chờ Nhật Bản ủng hộ và tham gia vào cuộc phiêu lưu quân sự nào đó của Mỹ ở eo biển Đài Loan hay ở Biển Đông.

Những nhân tố nói trên sẽ có tác động mạnh mẽ đến quyết định can thiệp quân sự ở Châu A'. Tuy nhiên, những nhân tố này không loại trừ khả năng can thiệp quân sự của Mỹ ở khu vực này. Trong những hoàn cảnh đặc biệt và do tính toán sai lầm về chiến lược và lợi ích của chính quyền Mỹ vào thời điểm đó, Mỹ có thể can thiệp với mức độ khác nhau ở khu vực này. Tuy nhiên, khả năng Mỹ can thiệp vũ trang thô bạo như ở Kosovo khó có thể xảy ra ở Châu A'.

Tham vọng sen đầm quốc tế của Mỹ: Khả năng và hạn chế:

Mỹ có khả năng duy trì được vị trí siêu cường duy nhất của mình ít nhất trong vòng một, hai thập kỷ tới. Nền kinh tế Mỹ vẫn có sức cạnh tranh mạnh nhất thế giới, sức sáng tạo khoa học kỹ thuật của Mỹ vẫn giữ vị trí hàng đầu. Đặc biệt công nghệ tin học và ứng dụng của nó đã góp phần tăng năng suất lao động đáng kể và làm cho "nền kinh tế mới" của Mỹ duy trì được tăng trưởng ngay cả khi một loạt các nền kinh tế ở CA-TBD lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Về quân sự, Mỹ vượt xa các nước lớn khác như Nga, Trung Quốc. Mỹ là nước duy nhất có khả năng triển khai lực lượng ra toàn cầu. Mỹ nắm giữ vai trò chủ đạo trong các thiết chế tài chính, thương mại thế giới như IMF, WTO, WB... Mỹ cũng là nước lãnh đạo khối liên minh an ninh quân sự xuyên Đại Tây Dương, NATO và qua đó duy trì sự phụ thuộc của các nước Tây Âu vào Mỹ về mặt chính trị và quân sự. O' Châu A', hệ thống San Fransico do Mỹ thành lập từ sau chiến tranh lạnh đến nay vẫn được duy trì và củng cố. Như vậy, có thể thấy rằng Mỹ có mục tiêu, ý đồ và biện pháp cụ thể để thiết lập thế một cực, lãnh đạo và xây dựng thế giới theo mô hình phát triển của Mỹ cả về kinh tế, chính trị lẫn các giá trị dân chủ và quyền con người.

Tuy nhiên tham vọng bá quyền của Mỹ sẽ phải đương đầu với 5 thách thức lớn. Những thách thức này là những lực cản chủ yếu đối với những cố gắng thiết lập trật tự đơn cực của Mỹ.

Thách thức thứ nhất từ các nước lớn như Nga, Trung Quốc, Â'n Độ, chủ trương thiết lập một trật tự thế giới đa cực, trong đó vị trí bá quyền của Mỹ được kiềm chế và Mỹ không có khả năng áp đặt ý chí của mình trong quan hệ với các nước khác. Chủ nghĩa dân tộc của Trung Quốc, tinh thần Đại Nga và chính sách độc lập của Â'n Độ không dễ dung hòa với xu hướng bá quyền của Mỹ.

Hai là, khi không còn một kẻ thù chung và một mối đe dọa trực tiếp đến an ninh quốc gia, xu hướng ly tâm trong các nước đồng minh của Mỹ tăng lên. Pháp và Đức đã không ủng hộ Mỹ trong chiến dịch "con cáo sa mạc" tấn công vào Iraq tháng 12/1998. Mặc dù đứng về phía Mỹ trong quyết định không kích Kosovo bắt đầu vào tháng 3/1999, các đồng minh Châu Âu của Mỹ đã kiên quyết không nhượng bộ Mỹ và đã không ủng hộ chủ trương bỏ qua vai trò của Liên Hợp Quốc trong các cuộc xung đột khu vực. Khái niệm chiến lược mới của NATO cho phép bảo vệ lợi ích phương Tây ngoài lãnh thổ NATO, được thảo luận trong hội nghị thượng đỉnh kỷ niệm 50 năm thành lập NATO, đã không được các thành viên Châu Âu đặc biệt là Pháp và Đức chấp thuận bất chấp sự ủng hộ mạnh mẽ của Mỹ. Đồng minh thân cận nhất của Mỹ ở Châu A', Nhật Bản, cũng đã có những biểu hiện độc lập về chính sách ngoại giao rõ rệt trong một số vấn đề. Nhật Bản đã không ủng hộ nghị quyết do Mỹ bảo trợ tại kỳ họp hàng năm của ủy ban nhân quyền nhằm lên án Trung Quốc.

Một thách thức to lớn khác đối với Mỹ là thực tế thế giới trở nên phụ thuộc lẫn nhau hơn bao giờ hết, và chính sự phụ thuộc lẫn nhau này có tính chất ràng buộc đối với các nước lớn cũng như nhỏ. Cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế ở Châu A' lan rộng sang Nga và Châu Mỹ La tinh là minh chứng sống động về sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong thời đại hậu công nghiệp và toàn cầu hóa các thị trường tài chính trên thế giới. Hơn nữa, dù mạnh đến đâu, Mỹ không thể đơn phương giải quyết những vấn đề có tính chất xuyên quốc gia như vấn đề môi trường, dân số hay khủng bố. Thực tế này cũng là một trong những trở ngại to lớn đối với ý đồ bá quyền của Mỹ.

Ngoài ra, tham vọng bá quyền, thống trị của Mỹ sẽ gặp phải sự chống đối quyết liệt của các nước vừa và nhỏ, những nước luôn nêu cao tinh thần độc lập dân tộc. Xu hướng can thiệp, thậm chí dùng vũ lực để can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, áp đặt ý chí và mô hình dân chủ theo tiêu chuẩn của Mỹ, sẽ thất bại. Bài học đã học được ở Việt Nam của Mỹ đáng lẽ phải là bài học xuyên suốt, và có ý nghĩa trong cả bối cảnh ngày nay. Không sức mạnh nào, dù là sức mạnh quân sự và vũ khí tối tân của Mỹ có thể làm cho những cuộc chiến tranh phi nghĩa của Mỹ thành công.

Cuối cùng, sự đấu tranh giữa chủ nghĩa biệt lập mới và chủ nghĩa quốc tế trong lòng nước Mỹ chứng tỏ một thực tế là ngay chính nước Mỹ cũng chưa có được sự nhất trí về vai trò lãnh đạo thế giới và xác lập bá quyền của mình. Trong giới lãnh đạo Mỹ cũng như công chúng Mỹ, cuộc đấu tranh giữa hai trường phái biệt lập và quốc tế vẫn chưa chấm dứt. Trong một cuộc thăm dò ý kiến năm 1997, chỉ có 13% cho rằng họ muốn nước Mỹ đóng một vai trò nổi trội trong các vấn đề quốc tế trong khi 74% muốn Mỹ chia sẻ quyền lực với các nước khác. Những cuộc thăm dò ý kiến công luận khác cũng có những kết quả tương tự. Nhìn chung, đối với những người dân Mỹ bình thường, 55 đến 66% số người được hỏi cho rằng những gì đang diễn ra ở Châu Âu, Châu A' hay Châu Phi, ít hoặc hầu như không có ảnh hưởng đến cuộc sống của họ(7).

Tóm lại, như Giáo sư Huntington đã nhận xét : "Mỹ không có một cơ sở chính trị nội bộ để tạo dựng một thế giới đơn cực cho dù đa số giới tinh hoa Mỹ có thể bỏ qua hoặc lấy làm tiếc về điều đó"(8).

Thay cho lời kết:

Xem xét chính sách can thiệp quân sự của Mỹ trong những năm 90 và những động thái gần đây trong chính sách của Mỹ, có thể rút ra một số nhận xét sơ bộ về đường hướng chiến lược của Mỹ trong thời kỳ tới.

1. Quyết tâm can dự và mở rộng của chính quyền Clinton đã phát triển theo một hướng đáng lo ngại. Xu hướng Mỹ giảm chi phí quân sự lần đầu tiên từ sau chiến tranh lạnh đã bị đảo ngược. Ngày 3/1/1999, Clinton đã tuyên bố tăng chi phí quốc phòng thêm 12 tỷ đô la / năm trong vòng 6 năm tới với mục đích hiện đại hóa và cải thiện tình trạng sẵn sàng chiến đấu của quân đội. Như vậy, có thể thấy việc cải thiện đáng kể tình hình kinh tế của nước Mỹ nói chung và ngân sách Mỹ nói riêng đã tạo điều kiện cho Mỹ tập trung hơn vào các vấn đề đối ngoại và quân sự(9).

2. Cuộc khủng hoảng Kosovo cho thấy dân chủ nhân quyền có thể trở thành cái cớ Mỹ dùng để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác với mục đích thực hiện các ý đồ chiến lược đen tối của mình. Tuy nhiên, kết cục của cuộc khủng hoảng Kosovo sẽ có tác động sâu sắc đến nhận thức và chính sách can thiệp của Mỹ. Nếu mục tiêu của Mỹ đề ra và ý đồ thực sự của Mỹ không đạt được, trong tương lai, Mỹ có thể phải cân nhắc kỹ càng hơn trong việc sử dụng cớ bảo vệ dân chủ nhân quyền để can thiệp vào một nước có chủ quyền. Không phải lúc nào chính quyền Mỹ cũng thuyết phục được nhân dân Mỹ và đồng minh của mình rằng sự vi phạm nhân quyền trong nội bộ một nước có khả năng đe dọa an ninh của Mỹ và đồng minh của mình, chứ chưa nói đến an ninh khu vực và thế giới. Trong khi các đồng minh Châu Âu của Mỹ có thể tỏ ra nhiệt tình ủng hộ quan điểm của Mỹ về dân chủ nhân quyền hơn, các đồng minh Châu A' của Mỹ như Nhật Bản, Hàn Quốc hay Ôxtralia v.v... không phải lúc nào cũng sẵn sàng đi theo Mỹ trong vấn đề này.

3. Việc Mỹ bỏ qua Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc để dùng NATO làm vỏ bọc tấn công Kosovo đã đặt ra những vấn đề to lớn đối với quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, trong quá trình tìm giải pháp cho cuộc khủng hoảng Nam Tư, cuối cùng người ta thấy Mỹ cũng không thể bỏ qua vai trò của Liên Hợp Quốc. Tất nhiên việc củng cố và tăng cường vai trò của Liên Hợp Quốc như thế nào là một yêu cầu cấp bách hiện nay.

4. Chính trị cường quyền vẫn là một nét nổi bật trong chính trị quốc tế thời kỳ sau chiến tranh lạnh. Bước vào thế kỷ 21, các nước vừa và nhỏ sẽ phải nhận thức sâu sắc rằng sức mạnh quân sự, kinh tế và chính trị của các nước lớn, đặc biệt của Mỹ - siêu cường duy nhất trên thế giới - vẫn là nhân tố quan trọng bậc nhất, nếu không nói là quyết định đối với hòa bình và ổn định thế giới. Những cơ chế hợp tác quốc tế hay khu vực sẽ chỉ hoạt động hiệu quả khi nó phù hợp với những tính toán chiến lược và lợi ích của các nước lớn. Do đó, hơn bao giờ hết các nước vừa và nhỏ phải tăng cường đoàn kết, tranh thủ giải quyết các bất đồng thông qua đối thoại, thương lượng hòa bình, không tạo cớ cho bên ngoài can thiệp.

Chú thích:

1. (http://ww.dtic.mil/execsec/adr 1999/chap 1.html.

2. Tin Tham khảo Chủ nhật, 18/4/1999, tr. 19.

3. SIPRI, Year book.

4. Tài liệu Tham khảo đặc biệt, 27/5/1999, tr. 4.

5. Christopher, 4/1993.

6. Chiến lược an ninh quốc gia cho thế kỷ 21, 5/1997.

7. "The Lonely Superpower", Samue/Huntington, Foreign affairs, Vol, 78. No. 2, March/april 1999.

8. "The Lonely Superpower", Samue/Huntington, Foreign affairs, Vol, 78. No. 2, March/april 1999.

9. Ngân sách Liên bang Mỹ dư 70 tỷ đô năm 1998 và dự kiến sẽ dư 111 tỷ đô năm 1999./.

Linked websites